Đọc tốt hơn trên điện thoại Ứng dụng Xuân Thu: tìm kiếm, đánh dấu, đọc to, ngoại tuyến
Giao diện
Cỡ chữ 18
Hy Công

Năm thứ 27 đời Tức Công

Chương 27

Năm thứ hai mươi bảy, mùa xuân, Công tộc Kỷ Hoàn đến nước Lỗ triều kiến. Vì dùng lễ nghi của người Di Địch, nên Kinh Xuân Thu gọi ông là “Tử”. Tín công cho rằng nước Kỷ địa vị thấp kém, Công nước Kỷ đối với nước Lỗ không cung kính.

Mùa hạ, Tề Hiếu công qua đời. Nước Lỗ tuy có oán hận với nước Tề, nhưng vẫn không bỏ qua lễ nghi đối với tang sự của nước láng giềng, điều này hợp với lễ.

Mùa thu, quân đội nước Lỗ tiến vào nước Kỷ, đây là trách tội nước Kỷ đối với nước Lỗ không có lễ tiết.

Sở Thành vương sắp vây đánh nước Tống, bèn sai Tử Văn huấn luyện quân đội ở đất Khuê. Tử Văn chỉ dùng một buổi sáng là kết thúc, không trừng phạt một ai. Tử Ngọc lại huấn luyện quân đội ở đất Uỷ, dùng cả một ngày mới xong, đánh roi bảy người, dùng tên xuyên tai ba người. Các bầy tôi già của nước Sở đều đến chúc mừng Tử Văn, Tử Văn mời họ uống rượu. UỶ Giả lúc đó tuổi còn nhỏ, cuối cùng mới đến, không chúc mừng Tử Văn. Tử Văn hỏi nguyên nhân, UỶ Giả đáp: “Tôi không biết có gì đáng chúc mừng. Ngài đem chính quyền giao cho Tử Ngọc, nói là để an định nước nhà. Nếu bên trong an định mà bên ngoài lại gặp thất bại, thì có thể thu được bao nhiêu lợi ích? Sự thất bại của Tử Ngọc, là do ngài tiến cử. Người được tiến cử mà khiến nước nhà thất bại, thì có gì đáng chúc mừng? Tử Ngọc tính tình cương cường mà vô lễ, không thể trị lý dân chúng. Để y cầm quân vượt quá ba trăm cỗ chiến xa, e rằng không thể để y an toàn trở về. Nếu có thể an toàn trở về rồi hãy chúc mừng, thì có gì là muộn?”

Mùa đông, Sở Thành vương cùng chư hầu vây đánh nước Tống. Công Tôn Cố nước Tống đến nước Tấn cáo cấp. Tiên Chẩn nói: “Báo đáp ân huệ của nước Tống, giải cứu tai họa của nước Tống, giành được uy vọng, đặt nền móng cho nghiệp bá, chính là ở một lần này.” Hồ Yển nói: “Nước Sở vừa mới có được nước Tào quy phục, lại mới kết thân với nước Vệ. Nếu chúng ta đánh nước Tào và nước Vệ, nước Sở nhất định sẽ đến cứu, như vậy nước Tề và nước Tống có thể khỏi bị đánh.” Bèn nước Tấn tổ chức duyệt binh ở đất Bị Lư, thành lập ba quân, bàn bạc chọn nguyên soái. Triệu Suy nói: “Khích Hốt có thể. Tôi nhiều lần nghe lời nói của ông ta, ông ta yêu thích lễ nhạc và coi trọng Kinh Thi, Kinh Thư. Kinh Thi, Kinh Thư là kho tàng của nghĩa, lễ nhạc là khuôn mẫu của đức, đức và nghĩa là nền tảng của lợi. Sách Hạ Thư nói: ‘Rộng rãi nghe nhận lời nói của họ, rõ ràng dùng việc cụ thể để khảo sát họ, dùng xe cộ và y phục để thưởng công cho họ.’ Ngài chẳng thử dùng ông ta.” Bèn Tấn Văn công sai Khích Hốt thống lĩnh trung quân, Khích Sầm phụ tá; sai Hồ Yển thống lĩnh thượng quân, Hồ Yển nhường cho Hồ Mao, mình phụ tá; bổ nhiệm Triệu Suy làm khanh, Triệu Suy nhường cho Loan Chi và Tiên Chẩn; sai Loan Chi thống lĩnh hạ quân, Tiên Chẩn phụ tá. Tuân Lâm Phụ làm người đánh xe cho Tấn Văn công, Ngụy Thù làm xa hữu.

Khi Tấn Văn công mới về nước, bắt đầu giáo dục dân chúng. Qua hai năm, định dùng họ. Tử Phạm nói: “Dân chúng còn chưa biết nghĩa, chưa an cư lạc nghiệp.” Bèn Tấn Văn công xuất binh an định ngôi vua của Chu Tương vương, về nước chuyên tâm làm lợi cho dân, dân chúng liền có ý muốn an cư lạc nghiệp. Tấn Văn công lại định dùng họ, Tử Phạm nói: “Dân chúng còn chưa biết tín, chưa hiểu rõ tác dụng của tín.” Bèn Tấn Văn công đánh nước Nguyên, tỏ rõ tín với dân. Dân chúng làm buôn bán, không cầu lợi nhiều, công khai tỏ rõ giá cả của mình. Tấn Văn công nói: “Có thể rồi chứ?” Tử Phạm nói: “Dân chúng còn chưa biết lễ, chưa sinh lòng cung kính.” Bèn Tấn Văn công tiến hành duyệt binh quy mô lớn để tỏ rõ lễ nghi, đặt chức Chấp Chức để chỉnh đốn chức vụ của quan lại. Dân chúng nghe theo mệnh lệnh mà không mê hoặc, sau đó mới dùng họ. Bèn Tấn Văn công đuổi quân Sở đóng ở đất Cốc, giải vây cho nước Tống, một trận chiến là lập nên nghiệp bá. Đó đều là kết quả giáo hóa của Văn công.