Huyết Khí Hình Chí
Hằng số sinh lý bình thường của con người là: Kinh Thái dương thường nhiều huyết ít khí, kinh Thiếu dương thường ít huyết nhiều khí, kinh Dương minh thường nhiều khí nhiều huyết, kinh Thiếu âm thường ít huyết nhiều khí, kinh Quyết âm thường nhiều huyết ít khí, kinh Thái âm thường nhiều khí ít huyết. Đây là hằng số bẩm sinh của cơ thể.
Túc Thái dương Bàng quang kinh và Túc Thiếu âm Thận kinh biểu lý tương hỗ, Túc Thiếu dương Đởm kinh và Túc Quyết âm Can kinh biểu lý tương hỗ, Túc Dương minh Vị kinh và Túc Thái âm Tỳ kinh biểu lý tương hỗ. Đây là mối quan hệ phối hợp của ba kinh âm và ba kinh dương ở chân. Thủ Thái dương Tiểu trường kinh và Thủ Thiếu âm Tâm kinh biểu lý tương hỗ, Thủ Thiếu dương Tam tiêu kinh và Thủ Quyết âm Tâm bào kinh biểu lý tương hỗ, Thủ Dương minh Đại trường kinh và Thủ Thái âm Phế kinh biểu lý tương hỗ. Đây là mối quan hệ phối hợp của ba kinh âm và ba kinh dương ở tay.
Nay đã biết những chứng đau do kinh mạch âm dương ở tay chân gây ra. Phàm chữa bệnh, trước hết phải trích huyết để trừ tà khí, từ đó giải trừ nỗi đau của bệnh nhân, rồi quan sát nhu cầu của họ, sau đó tả phần thừa, bổ phần thiếu.
Muốn xác định vị trí huyệt Du ở lưng, trước hết đo chiều rộng giữa hai đầu vú, lấy một sợi dây cỏ gấp đôi từ giữa, rồi lấy một sợi dây cỏ khác đo một nửa chiều dài sau khi gấp đôi, sau đó dùng hai đầu của hai sợi dây cỏ chống đỡ lẫn nhau, tạo thành một hình tam giác, rồi nâng hình tam giác này lên để đo lưng, đặt một góc của tam giác hướng lên, thẳng với huyệt Đại chùy trên xương sống, hai góc còn lại hướng xuống dưới, vị trí mà hai góc dưới đối diện chính là huyệt Phế Du. Lại di chuyển xuống một độ (tức di chuyển thêm một vị trí tam giác nữa), đó là huyệt Tâm Du. Lại di chuyển xuống một độ, góc bên trái tương ứng với huyệt Can Du, góc bên phải tương ứng với huyệt Tỳ Du. Lại di chuyển xuống một độ, đó là huyệt Thận Du. Đây là phương pháp định vị ngũ tạng Du huyệt, cũng là chuẩn tắc của cứu pháp và châm pháp.
Người hình thể an nhàn nhưng tinh thần khổ muộn, bệnh thường sinh ra ở huyết mạch, chữa trị nên dùng cứu pháp và châm pháp. Người hình thể an nhàn tinh thần cũng vui vẻ, bệnh thường sinh ra ở cơ nhục, chữa trị nên dùng châm pháp và biếm thạch. Người hình thể lao khổ nhưng tinh thần vui vẻ, bệnh thường sinh ra ở cân, chữa trị nên dùng nhiệt úy và đạo dẫn. Người hình thể lao khổ tinh thần cũng khổ muộn, bệnh thường sinh ra ở yết hầu, chữa trị nên dùng các loại dược vật. Người hình thể nhiều lần kinh sợ, kinh lạc khí huyết không thông, bệnh thường sinh ra ở tê dại mất cảm giác, chữa trị nên dùng án ma và dược tửu. Đây là năm loại hình chí trạng thái gây ra bệnh và phương pháp chữa trị.
Châm kinh Dương minh, có thể làm xuất huyết và xuất khí. Châm kinh Thái dương, có thể làm xuất huyết nhưng phải thận trọng đừng tổn thương khí. Châm kinh Thiếu dương, có thể làm xuất khí nhưng phải thận trọng đừng tổn thương huyết. Châm kinh Thái âm, có thể làm xuất khí nhưng phải thận trọng đừng tổn thương huyết. Châm kinh Thiếu âm, có thể làm xuất khí nhưng phải thận trọng đừng tổn thương huyết. Châm kinh Quyết âm, có thể làm xuất huyết nhưng phải thận trọng đừng tổn thương khí.
