Quyển 2 - Trung Kinh
Trung dược một trăm hai mươi vị làm thần dược, chủ yếu dùng để điều dưỡng tính tình con người nhằm thuận ứng với cơ thể. Thuốc không có độc hoặc có độc, phải cân nhắc xem có thích hợp hay không. Những ai muốn ngăn chặn bệnh tật, bồi bổ hư nhược, lấy trung kinh làm gốc: Hùng hoàng, Thạch lưu hoàng, Thư hoàng, Thủy ngân, Thạch cao, Từ thạch, Ngưng thủy thạch, Dương khởi thạch, Khổng công nghiệt, Ân nghiệt, Thiết tinh, Lý thạch, Trường thạch, Phu thanh (các loại ngọc thạch trên, trung phẩm mười bốn vị. Bản cũ là mười sáu vị). Can khương, Nhĩ thực, Cát căn, Qua lâu căn, Khổ sâm, Đương quy, Ma hoàng, Thông thảo, Thược dược, Lý thực, Cù mạch, Nguyên sâm, Tần giao, Bách hợp, Tri mẫu, Bối mẫu, Bạch chỉ, Dâm dương hoắc, Hoàng cầm, Cẩu tích, Thạch long thụy, Mao căn, Tử uyển, Tử thảo, Bại tương, Bạch tiên, Toan tương, Tử sâm, Cảo bản, Thạch vi, Bì giải, Bạch vi, Thủy bình, Vương qua, Địa du, Hải tảo, Trạch lan, Phòng kỷ, Khoản đông hoa, Mẫu đơn, Mã tiên hao, Tích tuyết thảo, Nữ uyển, Vương tôn, Thục dương tuyền, Tước sàng, Giả tô, Tiêu căn (các loại thảo trên, trung phẩm bốn mươi chín vị. Bản cũ là bốn mươi sáu vị). Tang căn bạch bì, Trúc diệp, Ngô thù du, Chi tử, Vu di, Chỉ thực, Hậu phác, Tần bì, Tần tiêu, Sơn thù du, Tử uy, Trư linh, Bạch cức, Long nhãn, Tùng la, Vệ mâu, Hợp hoan (các loại mộc trên, trung phẩm mười bảy vị. Bản cũ giống vậy). Mã kính, Lộc nhung, Ngưu giác tư, Dương giác, Mẫu cẩu âm tinh, Linh dương giác, Tê giác (các loại thú trên, trung phẩm bảy vị. Bản cũ giống vậy). Yến thỉ, Thiên thử thỉ (các loại cầm trên, trung phẩm hai vị. Bản cũ là ba vị). Vị bì, Lộ phong phòng, Miết giáp, giải, Trạch thiền, Tề tào, Ô tặc cốt, Bạch cương tàm, Xà ngư giáp, Xu kê, Hoạt du, Thạch long tử, Mộc manh, Phi manh, Phi liêm, Chích trùng, Phục dực (các loại trùng ngư trên, trung phẩm mười bảy vị. Bản cũ là mười sáu vị). Mai thực (các loại quả trên, trung phẩm một vị. Bản cũ giống vậy). Đại đậu hoàng quyển, Xích tiểu đậu, Túc mễ, Thử mễ (các loại mễ cốc trên, trung phẩm ba vị. Bản cũ là hai vị). Liệu thực, Thông thực, Giới, Thủy tô (các loại thái trên, trung phẩm ba vị. Bản cũ giống vậy).
Hùng hoàng: Vị đắng, tính bình, hàn. Chủ trị bệnh hàn nhiệt, thử lậu, ác sang, thư trĩ, tử cơ, có thể giết tinh quái, ác quỷ, tà khí, độc của trăm loại trùng, thắng được năm loại binh khí. Luyện rồi uống, khiến thân thể nhẹ nhàng, thành tiên. Một tên khác là Hoàng thực thạch. Sinh ở trong sơn cốc.
Ngô Phổ nói: Hùng hoàng, Thần Nông cho rằng: Vị đắng. Phía bắc núi có Đan hùng hoàng, sinh ở phía nam núi, nên gọi là hùng, là kẻ mạnh trong đan, vì thế có tên Hùng hoàng.
Danh Y nói: Sinh ở Vũ Đô, phía nam Đôn Hoàng. Thu hái không có thời gian cố định.
Theo: Tây Sơn Kinh nói: Dưới núi cao phần nhiều có Hùng hoàng. Quách Phác nói: Tấn Thái Hưng năm thứ ba, quận Cao Bình trong địa phận có núi sụp, trong đó đào ra mấy ngàn cân Hùng hoàng. Bộc Phác Tử · Tiên Dược Thiên nói: Hùng hoàng, nên dùng loại xuất từ núi Vũ Đô, thuần chính không tạp chất, màu đỏ như mào gà, sáng lấp lánh, mới dùng được; những thứ chỉ thuần vàng giống Hùng hoàng, không có ánh đỏ, không thể dùng để chế tạo tiên dược, chỉ có thể dùng để phối chế thuốc trị bệnh.
Thạch lưu hoàng (lưu, bản cũ viết là lưu. Ngự Lãm dẫn viết là lưu, nên dùng thế này): Vị chua, tính ôn. Chủ trị phụ nhân âm bộ thực sang, ung trĩ, ác huyết, có thể cường kiện cân cốt, tiêu trừ đầu thốt, có thể biến hóa kim ngân đồng thiết các kỳ dị vật chất (Ngự Lãm dẫn nói: Thạch lưu hoàng. Ngô Phổ nói: Lưu hoàng, một tên khác là Thạch lưu hoàng. Thần Nông, Hoàng Đế, Lôi Công cho rằng: Vị mặn, có độc; Y Hòa, Biển Thước cho rằng: Vị đắng, không độc. Có khi sinh ở Dịch Dương, có khi ở Hà Tây. Có khi năm màu, màu vàng là Phan thủy thạch dịch (Phan, chính là chữ cũ của Phàn), đốt sau có ngọn lửa tím, tháng tám, tháng chín thu hái, có thể trị phụ nhân bệnh. Danh Y nói: Sinh ở Đông Hải Mục Dương Sơn, cũng như Thái Sơn, Hà Tây Sơn. Là Phàn thạch dịch.
Theo: Phạm Tử Kế Nhiên nói: Thạch lưu hoàng, xuất từ Hán Trung. Lại nói: Lưu Phùng phục thực Thạch lưu hoàng mà càng trẻ. Lưu Quỳ chú thích Ngô Đô Phú nói: Lưu hoàng, là tinh khí của đất.
Thư hoàng: Vị tân, tính bình. Chủ trị ác sang, đầu thốt, giới, có thể giết độc trùng, chấy rận, trị thân ngứa, tà khí, các loại độc. Luyện qua nó. Dùng lâu dài, khiến thân thể nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ, không già. Sinh ở trong sơn cốc.
Ngô Phổ nói: Từ thạch, một tên khác là Từ quân.
Danh Y nói: Sinh ở Vũ Đô, cùng núi với Hùng hoàng. Phía bắc núi có vàng, tinh khí của vàng hun đúc, liền sinh ra Thư hoàng. Thu hái không có thời gian cố định.
Thủy ngân: Vị tân, tính hàn. Chủ trị giới sang, gia dương, bạch thốt, có thể giết da trong chấy rận, đọa thai, thanh trừ nhiệt độc, giết kim, ngân, đồng, thiếc độc. Nấu chảy còn có thể hoàn nguyên thành Đan sa, dùng lâu dài, có thể thành tiên, trường sinh bất tử. Sinh ở trên bằng địa.
Danh Y nói: Một tên khác là Hống. Sinh ở Phù Lăng, từ Đan sa sản xuất ra.
Theo: Thuyết Văn nói: Hống, là Đan sa biến hóa thành Thủy ngân. Quảng Nhã nói: Thủy ngân gọi là Hống. Hoài Nam Tử · Địa Hình Huấn nói: Bạch hống, trải qua chín trăm năm, sinh thành Bạch hống; Bạch hống, trải qua chín trăm năm, sinh thành Bạch kim. Cao Dụ nói: Bạch hống, chính là Thủy ngân.
Thạch cao: Vị tân, tính vi hàn. Chủ trị trúng phong gây hàn nhiệt, tâm hạ nghịch khí, kinh suyễn, miệng khô lưỡi tiêu, không thể hô hấp, phúc trung kiên ngạnh đau đớn, có thể khu trừ tà quỷ, trị sản hậu nhũ trung bất thông, kim sang. Sinh ở trong sơn cốc.
Danh Y nói: Một tên khác là Tế thạch. Sinh ở Tề Sơn cũng như Tề Lư Sơn, Lỗ Mông Sơn. Thu hái không có thời gian cố định.
Từ thạch: Vị tân, tính hàn. Chủ trị toàn thân tý thống, phong thấp, chi tiết trung đau đớn, không thể nắm giữ đồ vật, thân thể toan nhuyễn vô lực, có thể thanh trừ đại nhiệt, phiền mãn cũng như nhĩ long. Một tên khác là Nguyên thạch. Sinh ở trong sơn cốc.
Ngô Phổ nói: Từ thạch, một tên khác là Từ quân.
Danh Y nói: Một tên khác là Xử thạch. Sinh ở Thái Sơn cũng như Từ Sơn phía bắc; có sắt địa phương, liền sinh ở phía nam núi. Thu hái không có thời gian cố định.
Theo: Bắc Sơn Kinh nói: Quán đề sơn, trong đó phần nhiều có Từ thạch. Quách Phác nói: Có thể dùng để hút sắt. Quản Tử · Địa Số Thiên nói: Trên núi có Từ thạch, dưới nhất định có đồng. Lã Thị Xuân Thu · Tinh Thông Thiên nói: Từ thạch có thể triệu dẫn sắt. Hoài Nam Tử · Thuyết Sơn Huấn nói: Từ thạch có thể hấp dẫn sắt. Chỉ viết Từ, bản cũ viết Từ, là sai. Danh Y riêng liệt ra Nguyên thạch một điều, cũng là sai.
Ngưng thủy thạch: Vị tân, tính hàn. Chủ trị thân thể phát nhiệt, phúc trung tích tụ, tà khí, da trong như lửa đốt, phiền mãn. Dùng nước xung phục nó, dùng lâu dài, sẽ không đói. Một tên khác là Bạch thủy thạch. Sinh ở trong sơn cốc.
Ngô Phổ nói: Thần Nông cho rằng: Vị tân; Kỳ Bá, Y Hòa, Biển Thước cho rằng: Vị ngọt, không độc; Lý Thị cho rằng: Tính đại hàn. Có khi sinh ở Hàm Đan. Thu hái không có thời gian cố định. Màu sắc như Vân mẫu (Ngự Lãm dẫn nói: Một tên khác là Hàn thủy thạch).
Danh Y nói: Một tên khác là Hàn thủy thạch, lại gọi Lăng thủy thạch, là tinh khí của muối. Sinh ở Thường Sơn cũng như Ngưng Sơn, lại ở Trung Thủy huyện Hàm Đan.
Phạm Tử Kế Nhiên nói: Thủy thạch, xuất từ Hà Đông. Sắc tốt, phẩm chất tốt.
Dương khởi thạch: Vị mặn, tính vi ôn. Chủ trị băng trung lậu hạ, có thể phá trừ tử cung trung ứ huyết, chứng giả kết khí, hàn nhiệt phúc thống, bất dự, dương nuy bất cử (Ngự Lãm dẫn tác âm dương bất hợp), bổ dưỡng bất túc (Ngự Lãm dẫn có “câu loan” nhị tự). Một tên khác là Bạch thạch. Sinh ở trong sơn cốc.
Ngô Phổ nói: Dương khởi thạch, Thần Nông, Biển Thước cho rằng: Vị chua, không độc; Đồng Quân, Lôi Công, Kỳ Bá cho rằng: Vị mặn, không độc; Lý Thị cho rằng: Tính tiểu hàn. Có khi sinh ở Thái Sơn (Ngự Lãm dẫn nói: Có Dương khởi thạch. Thu hái không có thời gian cố định).
Danh Y nói: Một tên khác là Thạch sinh, lại gọi Dương khởi thạch, là Vân mẫu căn. Sinh ở Tề Sơn cũng như Lang Tà, có khi ở Vân Sơn, Dương Khởi Sơn. Thu hái không có thời gian cố định.
Khổng Công Nghiệt: vị cay, tính ấm. Chủ trị tổn thương thực tích không tiêu, tà khí kết tụ, ác sang, thư lậu, tà khí, có thể thông lợi cửu khiếu, hạ nhũ trấp (sách Ngự Lãm dẫn rằng: một tên khác gọi là Thông Thạch. Sách Đại Quán Bản ghi chữ đen). Mọc ở trong sơn cốc.
Sách Ngô Phổ nói: Khổng Công Nghiệt, Thần Nông cho rằng: vị cay; Kỳ Bá cho rằng: vị mặn; Biển Thước cho rằng: vị chua, không độc. Màu sắc xanh vàng.
Sách Danh Y nói: một tên khác gọi là Thông Thạch, là rễ của Ân Nghiệt. Màu xanh vàng. Mọc ở Lương Sơn.
Ân Nghiệt: vị cay, tính ấm. Chủ trị loạn thương ứ huyết, tiết lỵ hàn nhiệt, thử lậu hàn nhiệt, chứng hà tích kết khí. Một tên khác gọi là Khương Thạch. Mọc ở trong sơn cốc (theo: điều này nên hợp với Khổng Công Nghiệt thành một điều).
Sách Danh Y nói: là rễ của Chung Nhũ. Mọc ở nước Việt, lại mọc ở Lương Sơn và Nam Hải. Thu hoạch không có thời gian cố định.
Thiết Tinh: tính bình. Có thể làm sáng mắt, hóa đồng. Thiết Lạc: vị cay, tính bình. Chủ trị phong nhiệt ác sang, dương thư sang gio, giới khí ở trong da. Thiết: có thể làm khỏe cơ bắp, chịu đựng đau đớn. Mọc ở nơi bình trạch (bản cũ chia làm ba điều, nay hợp lại).
Sách Danh Y nói: Thiết Tinh, một tên khác gọi là Thiết Dịch. Có thể dùng để nhuộm màu. Mọc ở Mục Dương Thành và ở Kiềm Thành hoặc Tích Thành. Thu hoạch không có thời gian cố định.
Theo: sách Thuyết Văn nói: Thiết, là kim loại màu đen, có chữ viết tắt là Thiết, chữ cổ viết là Di.
Lý Thạch: vị cay, tính hàn. Chủ trị thân thể phát nhiệt, có thể điều hòa vị tràng, giải trừ phiền muộn, tăng ích tinh minh mục, phá trừ tích tụ, khu trừ tam trùng. Một tên khác gọi là Lập Chế Thạch. Mọc ở trong sơn cốc.
Sách Danh Y nói: một tên khác gọi là Cơ Thạch, giống như Thạch Cao, văn lý thuận thẳng mà tế nhuyễn. Mọc ở Hán Trung và Lư Sơn. Thu hoạch không có thời gian cố định.
Trường Thạch: vị cay, tính hàn. Chủ trị thân thể phát nhiệt, tứ chi hàn quyết, có thể thông lợi tiểu tiện, thông suốt huyết mạch, minh mục, khứ ế mạc, khu trừ tam trùng, sát trùng cổ độc. Phục dụng lâu dài, sẽ không đói. Một tên khác gọi là Phương Thạch. Mọc ở trong sơn cốc.
Sách Ngô Phổ nói: Trường Thạch, một tên khác gọi là Phương Thạch, lại gọi là Trực Thạch. Mọc ở Trưởng Tử sơn cốc. Giống như răng ngựa, nhuận trạch, sắc ngọc lâu dài tươi sáng. Phục dụng nó, sẽ không đói (sách Ngự Lãm).
Sách Danh Y nói: một tên khác gọi là Thổ Thạch, một tên khác gọi là Trực Thạch. Văn lý giống như răng ngựa, phương chánh mà nhuận trạch, màu sắc như ngọc. Mọc ở trong núi Trưởng Tử và ở Thái Sơn, Lâm Truy nhất đới, thu hoạch không có thời gian cố định.
Phu Thanh: vị cay, tính bình. Chủ trị cổ độc và các loại độc do xà, thái, nhục, và ác sang. Mọc ở trong sơn cốc.
Sách Danh Y nói: một tên khác gọi là Thôi Thanh, một tên khác gọi là Thôi Thạch, mọc ở Ích Châu.
Theo: Đào Hoằng Cảnh nói: trong dân gian phương tễ và sách Tiên Kinh, đều không sử dụng vị thuốc này, mọi người cũng đều không còn nhận biết.
Trên đây là loại ngọc thạch, trung phẩm cộng mười bốn loại. Bản cũ là mười sáu loại. Khảo chứng Thiết Lạc, Thiết, nên hợp với Thiết Tinh thành một loại.
Can Khương: vị cay, tính ấm. Chủ trị hung trung trướng mãn, khái thấu khí nghịch thượng xung, ôn bổ trung tiêu, chỉ huyết, phát hãn, khu tán phong thấp tý thống, và trường tích, hạ lợi. Sinh dụng, đặc biệt tốt.
Phục dụng lâu dài, có thể khứ xú khí, thông đạt thần minh. Mọc ở trong sơn cốc.
Sách Danh Y nói: mọc ở Kiền Vi và Kinh Châu, Dương Châu. Tháng chín thu hoạch.
Theo: sách Thuyết Văn nói: Khương, là rau chống ẩm thấp. Sách Quảng Nhã nói: ?, là Liêm Khương. Sách Lã Thị Xuân Thu (Bản Vị thiên) nói, trong việc điều hòa vị ngon, có Dương Phác chi Khương. Cao Dụ chú: Dương Phác, là tên đất, ở Thục Quận. Tư Mã Tương Như trong bài Thượng Lâm Phú có ghi chép về Tử Khương.
Nhĩ Thực: vị ngọt, tính ấm. Chủ trị cảm thụ phong tà gây đau đầu sợ lạnh, phong thấp chu tý, tứ chi co rút đau đớn, và ác nhục tử cơ. Phục dụng lâu dài có thể bổ ích chính khí, sử thông nhĩ minh mục, tăng cường trí nhớ, thân thể nhẹ nhàng. Một tên khác gọi là Hồ?, một tên khác gọi là Địa Quỳ.
Mọc ở (sách Danh Y nói: một tên khác gọi là ?, một tên khác gọi là Thường Tư, mọc ở An Lục và Lục An dã điền trung, quả thực thành thục thì thu hoạch).
Theo: sách Thuyết Văn nói: ?, là quyển nhĩ; Linh, là quyển nhĩ. Sách Quảng Nhã nói: Linh nhĩ, ?, Thường?, Hồ?, là nhĩ. Sách Nhĩ Nhã nói: Thương nhĩ, là Linh nhĩ. Quách Phác nói: Giang Đông nhất đới gọi là Thường?, hình dạng giống như lão thử nhĩ, tùng sinh như bàn. Sách Mao Thi nói: Thái thái quyển nhĩ. Sách Truyện nói: Quyển nhĩ, là Linh nhĩ. Lục Cơ nói: Diệp tử thanh sắc đới bạch, giống như Hồ Tuy, khai bạch hoa, tế kinh mạn sinh. Có thể chử lai cật, hoạt nị nhi vị đạm bạc; tứ nguyệt trung kết quả, hình trạng chánh tượng phụ nữ chi nhĩ?, hiện tại hữu nhân xưng chi vi nhĩ?. Thảo. Trịnh Khang Thành nhận vi thị bạch hồ tuy, u châu nhân xưng chi vi tước nhĩ. Sách Hoài Nam Tử (Lãm Minh Huấn) nói: Địa vị ti tiện như?. Cao Dụ nói: ?, là ? nhĩ, thái danh. U Châu, Ký Châu nhất đới gọi là đàn thái, Lạc Dương nhất đới gọi là hồ?.
Cát Căn: vị ngọt, tính bình. Chủ trị tiêu khát bệnh, thân thể phát cao nhiệt, ẩu thổ, các loại tý chứng, có thể thăng phát âm khí, giải các loại độc. Cát Cốc, chủ trị hạ lợi thập niên dĩ thượng.
Một tên khác gọi là Kê Tề Căn. Mọc ở trong chủng cốc.
Sách Ngô Phổ nói: Cát Căn, Thần Nông cho rằng: vị ngọt. Mọc ở Thái Sơn (sách Ngự Lãm).
Sách Danh Y nói: một tên khác gọi là Lộc Hoắc, một tên khác gọi là Hoàng Cân. Mọc ở Vấn Sơn. Tháng năm thu hoạch căn, phơi khô.
Qua Lâu Căn: vị đắng, tính hàn. Chủ trị tiêu khát bệnh, thân thể phát nhiệt, phiền muộn trướng mãn, cao nhiệt, có thể bổ hư, an định trung tiêu, tục tiếp đoạn tuyệt chi tổn thương. Một tên khác gọi là Địa Lâu. Mọc ở sơn cốc và sơn chi bắc diện.
Sách Ngô Phổ nói: Qua Lâu, một tên khác gọi là Trạch Cự, một tên khác gọi là Trạch Cô (sách Ngự Lãm).
Sách Danh Y nói: một tên khác gọi là Quả Lõa, một tên khác gọi là Thiên Qua, một tên khác gọi là Trạch Cô. Quả thực, tên gọi là Hoàng Qua. Tháng hai, tháng tám thu hoạch căn, phơi khô, ba mươi ngày sau chế thành. Mọc ở Hoằng Nông.
Theo: sách Thuyết Văn nói: ?, ? lâu, là quả thực. Sách Quảng Nhã nói: Vương Bạch, là ? (ứng đương thị vương ?). Sách Nhĩ Nhã nói: Quả Lõa chi quả thực, là Qua Lâu. Quách Phác nói: hiện tại Tề địa nhân xưng chi vi Thiên Qua. Sách Mao Thi nói: Quả Lõa chi quả thực, dã mạn diên đáo diêm hạ. Sách Truyện nói: Quả Lõa, là Qua Lâu. Sách Lã Thị Xuân Thu nói: Vương thiện sinh. Cao Dụ nói: Thiện, hữu tả tác qua, thị ?. Theo: chữ "Thiện" trong sách Lã Thị Xuân Thu, là chữ "?" chi ngộ tả.
Khổ Sâm: vị đắng, tính hàn. Chủ trị tâm phúc gian khí cơ uất kết, chứng hà tích tụ, hoàng đản, tiểu tiện lâm lệ bất tận, năng khu trục thủy tà, tiêu trừ ung thũng, bổ ích trung tiêu, minh mục, chỉ lệ.
Một tên khác gọi là Thủy Hòe, một tên khác gọi là Khổ Thức. Mọc ở sơn cốc dã điền trung.
Sách Danh Y nói: một tên khác gọi là Địa Hòe, một tên khác gọi là Thố Hòe, một tên khác gọi là Kiều Hòe, một tên khác gọi là Bạch Kinh, một tên khác gọi là Hổ Ma, một tên khác gọi là Sầm Kinh, một tên khác gọi là Lộc Viết, một tên khác gọi là Lăng Lang. Mọc ở Nhữ Nam. Tháng ba, tháng tám, tháng mười thu hoạch căn, phơi khô.
Đương Quy: vị ngọt, tính ấm. Chủ trị khái thấu khí nghịch thượng xung, ôn ngược, hàn nhiệt vãng lai, bì phu trung thấp tà tứ dưỡng (sách Đại Quán Bản nói: tẩy âm tuyển), phụ nhân lậu hạ, bất dự, các loại ác sang dương, kim sang. Chử thủy ẩm dụng. Một tên khác gọi là Can Quy. Mọc ở trong sơn cốc.
Sách Ngô Phổ nói: Đương Quy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đồng Quân, Biển Thước cho rằng: vị ngọt, không độc; Kỳ Bá, Lôi Công cho rằng: vị cay, không độc; Lý Thị cho rằng: tính tiểu ôn. Hữu đích sinh trưởng ở Khương Hồ địa khu.
Sách Danh Y nói: mọc ở Lũng Tây. Tháng hai, tháng tám thu hoạch căn, âm can.
Theo: sách Quảng Nhã nói: Sơn Cận, thị Đương Quy. Sách Nhĩ Nhã nói: Tích, thị Sơn Cận. Quách Phác nói: hiện tại tượng Cận nhi thô đại. Hựu thuyết: Tích, thị Bạch Cận, Quách Phác nói: tựu thị thượng sơn cận.
Sách Phạm Tử Kế Nhiên nói: Đương Quy, xuất sản ư Lũng Tây. Một khi không có khô hủ, phẩm chất tốt.
Ma Hoàng
Vị khổ, tính ôn. Chủ trị trúng phong, thương hàn đau đầu, ôn ngược, có thể phát tán biểu tà, phát hãn, khu trừ tà nhiệt chi khí, chỉ khái nghịch thượng xung, khu trừ hàn nhiệt, phá trừ chứng hà kiên tích. Một tên gọi khác là Long Sa.
《Ngô Phổ》 nói: Ma Hoàng, một tên gọi khác là Ti Tương, một tên gọi khác là Ti Kiên. Thần Nông, Lôi Công cho rằng: Vị khổ, vô độc; Biển Thước cho rằng: Vị toan, vô độc; Lý Thị cho rằng: Tính bình. Có loại mọc ở Hà Đông. Tháng tư, Lập Thu thời thu thập (theo 《Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Một tên gọi khác là Ti Tương, một tên gọi khác là Ti Diêm. Sinh trưởng ở Tấn địa và Hà Đông. Lập Thu thời thu thập thân, âm can khiến màu xanh.
Chú: Theo 《Quảng Nhã》 nói: Long Sa, là Ma Hoàng. Ma Hoàng thân, là Cẩu Cốt. Theo 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Ma Hoàng, xuất sản từ Hán Trung Tam Phụ địa khu.
Thông Thảo
(Theo 《Ngự Lãm》 viết là Thảo)
Vị tân, tính bình. Chủ trị khu trừ ác trùng, tiêu trừ tỳ vị hàn nhiệt, thông lợi cửu khiếu, huyết mạch, quan tiết, sử nhân ký ức tăng cường. Một tên gọi khác là Phụ Chi. Sinh trưởng ở sơn cốc trung.
《Ngô Phổ》 nói: Thông Thảo, một tên gọi khác là Đinh Ông, một tên gọi khác là Phụ Chi. Thần Nông, Hoàng Đế cho rằng: Vị tân; Lôi Công cho rằng: Vị khổ. Sinh trưởng ở Thạch Thành sơn cốc, diệp tử thanh sắc đằng mạn man diên. Năng chỉ hãn, tòng chính nguyệt khai thủy thu thập (theo 《Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Một tên gọi khác là Đinh Ông. Sinh trưởng ở Thạch Thành và Sơn Dương. Chính nguyệt thu thập chi điều, âm can.
Chú: Theo 《Quảng Nhã》 nói: Phụ Chi, là ? Thảo. Theo 《Trung Sơn Kinh》 nói: Thăng Sơn, kỳ thảo hữu đa Khấu Thoát. Quách Phác nói: Khấu Thoát thảo, sinh trưởng ở Nam Phương, cao nhất trượng tả hữu, tượng hà diệp, nhi thân trung hữu bạch sắc nhưỡng, Linh Lăng nhân chủng thực chi tịnh mỗi nhật quán thủy, bả chi đương tác thụ. Theo 《Nhĩ Nhã》 nói: Ly Nam, là Hoạt ?. Quách Phác chú tương đồng. Hựu thuyết: Y Thương, là Hoạt Thoát. Quách Phác nói: Tựu thị Ly Nam. Theo 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: ? Thảo, xuất sản từ Tam Phụ địa khu.
Thược Dược
Vị khổ, tính bình. Chủ trị tà khí dẫn khởi phúc thống, khu trừ huyết tý, phá trừ kiên tích, hàn nhiệt, sán hà, chỉ thống, thông lợi tiểu tiện, bổ ích chính khí (theo 《Nghệ Văn Loại Tụ》 dẫn thuyết: Một tên gọi khác là Bạch Truật. Theo 《Đại Quán Bản》 viết hắc tự). Sinh trưởng ở sơn cốc trung dữ
《Ngô Phổ》 nói: Thược Dược, Thần Nông cho rằng: Vị khổ; Đồng Quân cho rằng: Vị cam, vô độc; Kỳ Bá cho rằng: Vị hàm; Lý Thị cho rằng: Tính tiểu hàn; Lôi Công cho rằng: Vị toan. Một tên gọi khác là Cam Tích, một tên gọi khác là Giải Thương, một tên gọi khác là Duyên, một tên gọi khác là Dư Dung, một tên gọi khác là Bạch Truật. Tam nguyệt tam nhật thu thập (theo 《Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Một tên gọi khác là Bạch Truật, một tên gọi khác là Dư Dung, một tên gọi khác là Lê Thực, một tên gọi khác là Giải Thực, một tên gọi khác là Đĩnh. Sinh trưởng ở Trung Nhạc. Nhị nguyệt, bát nguyệt thu thập căn, phơi khô.
Chú: Theo 《Quảng Nhã》 nói: Loan Di, là Thược Dược; Bạch Truật, là Mẫu Đơn. Theo 《Bắc Sơn Kinh》 nói: Tú Sơn, kỳ thảo hữu đa Thược Dược. Quách Phác nói: Thược Dược, một tên gọi khác là Tân Di, diệc thị hương thảo nhất loại. Theo 《Mao Thi》 nói: Tặng tống Thược Dược cấp tha. Theo 《Truyện》 nói: Thược Dược, là hương thảo. Theo 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Thược Dược, xuất sản từ Tam Phụ. Thôi Báo 《Cổ Kim Chú》 nói: Thược Dược hữu tam chủng: hữu thảo thược dược, hữu mộc thược dược. Mộc thược dược hữu hoa, đại giả nhan sắc thâm, tục xưng mẫu đơn, tịnh phi
Lệ Thực
Vị cam, tính bình. Chủ trị bì phu hàn nhiệt, vị trung nhiệt khí, hàn thấp tý thống, năng cường kiện cân cốt, sử nhân thực dục tăng gia. Trường kỳ phục dụng, năng sử thân thể khinh kiện. Hoa, diệp: năng khu trừ bạch trùng. Một tên gọi khác là Kịch Thảo, một tên gọi khác là Tam Kiên, một tên gọi khác là Thỉ Thủ. Sinh trưởng ở sơn cốc trung.
《Ngô Phổ》 nói: Lệ Thực, một tên gọi khác là Kịch Thảo, một tên gọi khác là Tam Kiên, một tên gọi khác là Kịch Lệ Hoa (theo 《Ngự Lãm》), một tên gọi khác là Trạch Lam, một tên gọi khác là Thỉ Thủ. Thần Nông, Hoàng Đế cho rằng: Vị cam, tân, vô độc. Sinh trưởng ở Uyển Câu. Ngũ nguyệt thu thập (đồng thượng).
《Danh Y》 nói: Một tên gọi khác là Lệ Thực. Sinh trưởng ở Hà Đông. Ngũ nguyệt thu thập quả thực, âm can.
Chú: Theo 《Thuyết Văn》 nói: Lệ, là thảo, tượng bồ thảo nhi tiểu, căn khả dĩ tác soa tử. Theo 《Quảng Nhã》 nói: Mã KT?, là Lệ. Theo 《Nguyệt Lệnh》 nói: Trọng đông chi nguyệt, lệ thảo đĩnh xuất. Trịnh Huyền chú: Lệ Đĩnh, là Mã Hài. Cao Dụ chú 《Hoài Nam Tử》 nói: Lệ Mã, là Lệ Thảo. Theo 《Thông Tục Văn》 nói: Một tên gọi khác là Mã Lan. Nhan Chi Thôi nói: Giá chủng đông tây tại Hà Bắc bình nguyên trạch phốc phổ biến sinh trưởng, Giang Đông diệc đa, chủng tại giai đình viện trung, chỉ xưng vi Tảo Bồ, cố bất nhận thức Mã Hài.
Cù Mạch
Vị khổ, tính hàn. Chủ trị quan cách, các chủng long bế kết trệ, tiểu tiện bất thông, năng bạt xuất thứ, quyết phá ung thũng, minh mục, khứ trừ ế chướng, phá tán thai khí, đọa hạ thai nhi, thông lợi hạ tiêu bế trở ứ huyết.
Hựu danh Cú Cú Mạch. Sinh trưởng ở sơn cốc trung.
《Danh Y》 nói: Hựu danh Đại Cúc, Đại Lan. Sinh trưởng ở Đại Sơn thượng. Lập Thu thời thu thập quả thực, âm can.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: Cù, tựu thị Cù Mạch. Cúc, Đại Cúc, đô thị Cù Mạch. 《Quảng Nhã》 nói: Tử Uy, Lăng Thiều, tựu thị Cù Mạch.
《Nhĩ Nhã》 nói: Đại Cúc, tựu thị Cù Mạch. Quách Phác nói: Hựu danh Mạch Cú Khương, tựu thị Cù Mạch. Đào Hoằng Cảnh nói: Kỳ chủng tử ngận tượng mạch tử, sở dĩ khiếu Cù Mạch.
Nguyên Sâm
Vị đạo khổ, tính chất vi hàn. Chủ trị phúc trung hàn nhiệt tích tụ, phụ nữ sản hậu bức nhũ kỳ dư tật, năng bổ thận khí, sử nhân nhãn tình minh lượng. Hựu danh Trùng Đài.
《Ngô Phổ》 nói: Nguyên Sâm, hựu danh Quỷ Tàng, Chính Mã, Trùng Đài, Lộc Phúc, Đoan, Nguyên Đài. Thần Nông, Đồng Quân, Hoàng Đế, Lôi Công, Biển Thước cho rằng: Vị khổ, vô độc; Kỳ Bá cho rằng: Vị hàm; Lý Thị cho rằng: Tính hàn. Hữu đích sinh trưởng ở Oan Cù Sơn chi nam diện. Nhị nguyệt trường xuất diệp tử tương mai diệp, tứ phiến tứ phiến tương hỗ đối sinh tương thược dược, hắc sắc thân trình phương hình, cao tứ ngũ xích, hoa hồng sắc, trường tại chi điều chi gian, tứ nguyệt quả thực hắc sắc (theo 《Thái Bình Ngự Lãm》).
Tứ nguyệt thu thập căn, phơi khô.
Khảo chứng: 《Quảng Nhã》 nói: Lộc Tràng, tựu thị Nguyên Sâm. 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Nguyên Sâm, sản tự Tam Phụ địa khu. Thanh sắc giả phẩm chất hảo.
Tần Giao
Vị đạo khổ, tính bình. Chủ trị hàn nhiệt tà khí, hàn thấp, phong thấp tý thống, chi tiết đau nhức, năng lợi thủy, thông lợi tiểu tiện. Sinh trưởng ở sơn cốc trung.
《Danh Y》 nói: Sinh trưởng ở Phi Ô Sơn. Nhị nguyệt, bát nguyệt thu thập căn, phơi khô.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: KT, thị tương hỗ triền kết chi thảo, 《Ngọc Thiên》 viết KT, độc âm cư bao thiết, thuyết Tần Giao, dược hòa Giao thị đồng nhất tự. Tiêu Bính
Bách Hợp
Vị đạo cam, tính bình. Chủ trị tà khí dẫn khởi phúc trướng, tâm thống, năng thông lợi đại tiểu tiện, bổ ích trung khí. Sinh trưởng ở hà cốc trung.
《Ngô Phổ》 nói: Bách Hợp, hựu danh Trùng Mại, Trung Đình. Sinh trưởng ở Quán Cù và Kinh Sơn (theo 《Nghệ Văn Loại Tụ》 dẫn dụng thuyết: Hựu danh Trùng Khuông).
《Danh Y》 nói: Hựu danh Trùng Tương, Ma La, Trung Phùng Hoa, Cường Cù. Sinh trưởng ở Kinh Châu. Nhị nguyệt, bát nguyệt thu thập căn, phơi khô.
Khảo chứng: 《Ngọc Thiên》 nói: Phiền, tựu thị Bách Hợp Toán.
Tri Mẫu
Vị đạo khổ, tính hàn. Chủ trị tiêu khát bệnh dẫn khởi thể nội phát nhiệt, năng khu trừ tà khí, tiêu trừ chi thể phù thũng, lợi thủy, bổ hư nhược bất túc, ích khí. Hựu danh Mẫu, Liên Mẫu, Dã Liễu, Địa Sâm, Thủy Sâm, Thủy Tuấn, Hóa Mẫu, Mẫu. Sinh trưởng ở hà cốc trung.
《Ngô Phổ》 nói: Tri Mẫu, Thần Nông, Đồng Quân cho rằng: Vô độc. Năng bổ hư nhược bất túc, ích khí (theo 《Thái Bình Ngự Lãm》 dẫn dụng thuyết: Hựu danh Đề Mẫu).
《Danh Y》 nói: Hựu danh Nữ Lôi, Nữ Lý, Nhi Thảo, Lộc Liệt, Cửu Bồng, Nhi Chủng Thảo, Đông Căn, Thủy Tu, Sầm Phồn, Hạo. Sinh trưởng ở Hà Nội địa khu. Nhị nguyệt, bát nguyệt thu thập căn, phơi khô.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: , tựu thị Mẫu. , thị Phồn Phiên, hữu tòng hào viết Hạo. 《Quảng Nhã》 nói: Mẫu, Nhi Chủng, tựu thị Đông Căn. 《Nhĩ Nhã》 nói: Hạo, tựu thị Phiên. Quách Phác nói: Sinh trưởng ở sơn thượng. Diệp tử tương cửu thái, hựu danh Mẫu. 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Mẫu, sản tự Tam Phụ địa khu, hoàng bạch sắc giả phẩm chất hảo. 《Ngọc Thiên》 viết Mẫu.
Bối Mẫu
Vị cay, tính bình. Chủ trị sốt rét phiền táo do thương hàn, tiểu tiện lâm lị bất sướng, tà khí, sán khí tích khối, hầu tý, sản nan, kim loại ngoại thương, phong kính. Lại gọi là Không Mẫu.
《Danh Y》 nói: Lại gọi là Dược Thực, Khổ Hoa, Khổ Thái, Thương (chữ này) Thảo, Cần Mẫu. Sinh trưởng ở đất Tấn.
Tháng mười thu hoạch rễ, phơi khô.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: , chính là Bối Mẫu.《Quảng Nhã》 nói: Bối Phụ, chính là Dược Thực.《Nhĩ Nhã》 nói: , chính là Bối Mẫu.
Quách Phác nói: Rễ giống như vỏ sò nhỏ, hình tròn mà nở hoa trắng, lá giống như rau hẹ.《 Mao Thi 》 nói: Hái lấy cái bọt kia.《 Mao Truyện 》 nói: Bọt, chính là Bối Mẫu.
Lục Ky nói: Lá của nó giống như Qua Lâu nhưng nhỏ hơn, hạt của nó ở dưới gốc giống như khoai môn, thuần trắng, bốn mặt liên kết chồng lên nhau có ranh giới.
Bạch Chỉ
Vị cay, tính ôn. Chủ trị phụ nữ lậu hạ xích bạch đới hạ, bế kinh, âm bộ sưng trướng, hàn nhiệt, phong tà xâm nhập đầu bộ dẫn đến chảy nước mắt. Có thể khiến cơ da sinh trưởng, nhuận trạch da dẻ, có thể chế tạo diện chi. Lại gọi là Phương Hương. Sinh trưởng ở trong khe suối.
《Ngô Phổ》 nói: Bạch Chỉ, lại gọi là , Phù Ly, Trạch Phân, (《Thái Bình Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Lại gọi là Bạch Chỉ, , Uyển, Phù Ly, Trạch Phân. Lá , lại gọi là Ma, có thể dùng làm tắm rửa thang tề. Sinh trưởng ở Hà Đông đất thấp ẩm. Tháng hai, tháng tám thu hoạch rễ, phơi khô.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: Chỉ, chính là ; đất Sở gọi là Ly, đất Tấn gọi là , đất Tề gọi là Chỉ.《Quảng Nhã》 nói: Bạch Chỉ, lá của nó gọi là Dược.《Tây Sơn Kinh》 nói: Hào Sơn, cỏ ở đó nhiều là Dược. Quách Phác nói: Dược, là biệt danh của Bạch Chỉ; , là hương thảo.
《Hoài Nam Tử · Tu Vụ Huấn》 nói: Thân thể giống như bị thu dược thổi qua mà thống khổ. Cao Dụ nói: Dược, chính là Bạch Chỉ, một loại hương thảo. Vương Dật chú《Sở Từ》 nói: Dược, chính là Bạch Chỉ. Án: Trong《Danh Y》 nói lại gọi là Uyển v.v, dường như là Uyển, Phù Ly trong《Nhĩ Nhã》, phần trên của nó. Mà《Thuyết Văn Giải Tự》 lại có , Phù Ly. , phần trên của Phù Ly. Đây không phải cùng một loại cỏ. Xá Nhân nói: Bạch Bồ, lại gọi là Phù Ly, đất Sở gọi là Uyển, há Bồ và Chỉ tương tự, mà《Danh Y》 lầm hợp nhất chúng thành một thể hay sao? Hoặc《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: Đất Sở gọi là Ly, chính là Phù Ly, không thể biết rõ. Bản cũ viết là Chỉ, không đúng.
Dâm Dương Hoắc
Vị cay, tính hàn. Chủ trị dương nuy, nghiêm trọng tổn thương, âm hành trung đau đớn, có thể thông lợi tiểu tiện, tăng cường khí lực, tráng kiện ý chí. Lại gọi là Cương Tiền. Sinh trưởng ở trong sơn cốc.
《Ngô Phổ》 nói: Dâm Dương Hoắc, Thần Nông, Lôi Công cho rằng: Vị tân; Lý Thị cho rằng: Tính tiểu hàn. Có thể kiên cố xương cốt (《Thái Bình Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Sinh trưởng ở Thượng Sơn Quận Dương Sơn.
Hoàng Cầm
Vị khổ, tính bình. Chủ trị các loại phát nhiệt gây hoàng đản, trường đạo tả lỵ thứ tật, có thể lợi thủy, trị liệu bế kinh, ác sang, cùng với thực sang, hỏa dương. Lại gọi là Hủ Trường. Sinh trưởng ở trong hà cốc.
《Ngô Phổ》 nói: Hoàng Cầm, lại gọi là Hoàng Văn, Đố Phụ, Hồng Thắng, Hồng Cầm, Ấn Đầu, Nội Hư. Thần Nông, Đồng Quân, Hoàng Đế, Lôi Công, Biển Thước cho rằng: Vị khổ, vô độc; Lý Thị cho rằng: Tính tiểu ôn. Tháng hai mọc ra lá đỏ vàng, hai hai bốn bốn tương đối, thân trung không hoặc hình vuông hình tròn, cao ba bốn thước, tháng tư nở hoa tử hồng sắc, tháng năm kết quả thực màu đen, rễ màu vàng. Tháng hai đến tháng chín thu hoạch (《Thái Bình Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Lại gọi là Không Trường, Nội Hư, Hoàng Văn, Hồng Cầm, Đố Phụ. Sinh trưởng ở Tỷ Quy và Oan Cú. Ngày ba tháng ba thu hoạch rễ, âm can.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: , chính là Hoàng.《Quảng Nhã》 nói: Nói: Hoàng Cầm, sản xuất từ Tam Phụ địa khu. Màu vàng phẩm chất tốt.
Cẩu Tích
Vị khổ, tính bình. Chủ trị yêu bối tật bệnh, cường kiện quan tiết, hoãn giải câu cấp và tùng trệ, trị liệu toàn thân tý thống, hàn thấp, tất cái đau đớn. Đối với lão niên nhân rất có ích. Một 《Ngô Phổ》 nói: Cẩu Tích, lại gọi là Cẩu Thanh, Xích Tiết. Thần Nông, Đồng Quân, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Lôi Công, Biển Thước cho rằng: Vị cam, vô độc; Lý Thị cho rằng: Tính tiểu ôn. Giống như Bì Giải, thân tiết giống như trúc, có thích, lá hình tròn màu đỏ, rễ hoàng bạch sắc, cũng giống như trúc căn, có mao thích.《Kỳ Bá Kinh》 nói: Thân 《Danh Y》 nói: Lại gọi là Cường Lữ, Phù Cái, Phù Cân. Sinh trưởng ở Thường Sơn. Tháng hai, tháng tám thu hoạch rễ, phơi khô.
Khảo chứng: 《Quảng Nhã》 nói: Bạt, chính là Cẩu Tích.《Ngọc Thiên》 nói: Bạt, là cẩu tích chi căn.《Danh Y》 riêng lập Bạt điều, không đúng.
Thạch Long Nhuế
Vị khổ, tính bình. Chủ trị phong hàn thấp tý, tâm phúc bộ tà khí, có thể thông lợi quan tiết, tiêu trừ phiền táo trướng mãn. Trường kỳ phục dụng, có thể khiến thân thể khinh kiện, nhãn tinh minh, diên hoãn suy lão. Lại gọi là Lỗ Quả Năng (《Thái Bình Ngự Lãm》 tác Thực Quả), Địa Thậm. Sinh trưởng ở hà biên thủy trạch thạch bàng.
《Ngô Phổ》 nói: Long Nhuế, lại gọi là Khương Thái, Thiên Đậu. Thần Nông cho rằng: Vị khổ, tính bình; Kỳ Bá cho rằng: Vị toan; Biển Thước, Lý Thị cho rằng: Tính đại hàn; Lôi Công cho rằng: Vị hàm, vô độc. Ngày năm tháng năm thu hoạch (《Thái Bình Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Lại gọi là Thạch Năng, Bành Căn, Thiên Đậu. Sinh trưởng ở Thái Sơn. Ngày năm tháng năm thu hoạch chủng tử, tháng hai, tháng tám thu hoạch bì, âm can.
Khảo chứng: 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Thạch Long Nhuế, sản xuất từ Tam Phụ địa khu. Màu vàng phẩm chất tốt.
Mao Căn
Vị cam, tính hàn. Chủ trị lao thương dẫn đến hư nhược tiêu sấu, có thể bổ ích trung khí, tiêu trừ ứ huyết, bế kinh, hàn nhiệt, thông lợi tiểu tiện. Miêu của nó, có thể lợi thủy. Lại gọi là Lan Căn, Như Căn. Sinh trưởng ở sơn cốc, điền dã trung.
《Danh Y》 nói: Lại gọi là Địa Quản, Địa Cân, Kiêm Đỗ. Sinh trưởng ở đất Sở. Tháng sáu thu hoạch căn.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn Giải Tự》 nói: Mao, chính là Gian; Gian, chính là Mao.《Quảng Nhã》 nói: Gian, chính là Mao.《Nhĩ Nhã》 nói: Bạch Hoa, chính là Dã Gian. Quách Phác nói: Gian, thuộc Mao loại.《Thi Kinh》 nói: Bạch Hoa Gian hề, Bạch Mao thúc hề.《 Mao Truyện 》 nói: Bạch Hoa, chính là Dã Gian, đã ẩu quá, gọi là Gian.
Tử Uyển
Vị khổ, tính ôn. Chủ trị khái thấu khí nghịch thượng xung, hung trung 《Ngô Phổ》 nói: Tử Uyển, lại gọi là Thanh Uyển (《Thái Bình Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Lại gọi là Tử Thiến, lại gọi là Thanh Uyển. Sinh trưởng ở Phòng Lăng dĩ cập Chân Định Hàm Đan. Tháng hai, tháng ba thái oạt căn bộ, âm can. Khảo chứng: 《Thuyết Văn》 nói: Uyển, chính là Tử Uyển, sản xuất ở Hán Trung Phòng Lăng. Đào Hoằng Cảnh nói: Bạch sắc, gọi là Bạch Uyển.《Đường Bản》 chú thích nói: Bạch Uyển, chính là Nữ Uyển.
Tử Thảo
Vị khổ, tính hàn. Chủ trị tâm phúc trung tà khí, ngũ chủng hoàng đản, có thể bổ ích trung khí, thông lợi cửu khiếu, sơ thông thủy đạo. Lại gọi là Tử Đan, lại gọi là Tử Phù (《Ngự Lãm》 dẫn dụng nói: Lại gọi là Địa Huyết.《Đại Quán Bổn》 không có đoạn văn này). Sinh trưởng ở trong sơn cốc.
《Ngô Phổ》 nói: Tử Thảo chi thân tiết thị hồng sắc. Tháng hai khai hoa. (《Ngự Lãm》).
《Danh Y》 nói: Sinh trưởng ở Đãng Sơn dĩ cập đất Sở. Tháng ba thái oạt căn bộ, âm can.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn》 nói: Tử, là nhất chủng thảo; Miểu, chính là Tử Thảo; , là nhất chủng thảo, khả dĩ dụng nhiễm lưu hoàng sắc.《Quảng Nhã》 nói: Tử, chính là Tử Thảo.《Sơn Hải Kinh》 nói: Lao Sơn hữu hứa đa Tử Thảo. Quách Phác chú thích nói: Lại gọi là Tử, khả dĩ dụng nhiễm tử sắc.《Nhĩ Nhã》 nói: Miểu, chính là Tử Thảo. Quách Phác chú thích nói: Khả dĩ dụng nhiễm tử sắc.
Bại Tương
Vị khổ, tính bình. Chủ trị đột nhiên phát tác nhiệt độc sang thương, hồng thũng nhiệt thống, giới sang tảo dương, hoàng đản, trĩ sang, mã an sang nhiệt khí. Lại gọi là Lộc Trường. Sinh trưởng ở trong sơn cốc.
《Danh Y》 nói: Lại gọi là Lộc Thủ, lại gọi là Mã Thảo, lại gọi là Trạch Bại. Sinh trưởng ở Giang Hạ. Tháng tám thái oạt căn bộ, phơi khô.
Khảo chứng: 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Bại Tương, sản xuất ở Tam Phụ. Đào Hoằng Cảnh nói: Khí vị tượng bại hoại chi tương, sở dĩ dĩ thử mệnh danh.
Bạch Tiên
Vị khổ, tính hàn. Chủ trị đầu phong, hoàng đản, khái thấu khí nghịch, tiểu tiện lâm lị bất sướng, nữ tử âm trung sưng thống, thấp tý dẫn đến cơ nhục tử hoại, bất năng khuất thân, khởi thân, hành tẩu. Sinh trưởng ở trong sơn cốc.
《Danh Y》 nói: Sinh trưởng ở Thượng Cốc dĩ cập Oan Cú. Tháng tư, tháng năm thái oạt căn bộ, âm can.
Khảo chứng: Đào Hoằng Cảnh nói: Dân gian gọi là Bạch Dương Tiên, khí vị chính tượng dương san vị, hữu đích dã gọi là Bạch San.
Toan Tương
Vị toan, tính bình. Chủ trị nhiệt tà gây phiền táo hung phúc trướng mãn, năng an định thần chí, bổ ích chính khí, thông lợi thủy đạo. Nan sản thì, thôn hạ quả thực của nó tựu lập tức sinh sản. Danh thử thố tương. Sinh trưởng tại thủy trạch trung.
《Ngô Phổ》thuyết: Toan tương, danh thử thố tương (dẫn từ《Ngự Lãm》).
《Danh Y》thuyết: Sinh trưởng tại Kinh Sở nhất đới dĩ cập nhân gia điền viên trung. Ngũ nguyệt thái thu, âm can.
Khảo chứng: 《Nhĩ Nhã》thuyết: , tựu thị hàn tương. Quách Phác chú thích thuyết: Tựu thị hiện tại đích toan tương thảo, Giang Đông nhất đới xưng chi vi khổ.
Tử Sâm
Vị khổ, tân, tính hàn. Chủ trị tâm phúc đích tích tụ bệnh, hàn nhiệt tà khí, năng thông lợi cửu khiếu, thông lợi đại tiểu tiện. Danh thử mẫu mông. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Ngô Phổ》thuyết: Phục mông, danh thử tử sâm, danh thử tuyền nhung, danh thử âm phúc, danh thử phục thố, danh thử trọng thương. Thần Nông, Hoàng Đế nhận vi: Vị khổ; Lý Thị nhận vi: Tính đại hàn. Sinh trưởng tại Hà Tây sơn cốc hoặc Uyển Cú, Thương Sơn. Tùng sinh, căn thị hoàng hồng sắc hữu văn lý, bì hắc trung đới tử, ngũ nguyệt khai hoa.《Danh Y》thuyết: Danh thử chúng nhung, danh thử đồng tràng, danh thử mã hành. Sinh trưởng tại Hà Tây dĩ cập Uyên Cú. Tam nguyệt thái oạt căn bộ, dụng hỏa chích khảo.
Khảo chứng: 《Phạm Tử Kế Nhiên》thuyết: Tử sâm, sản vu Tam Phụ. Nhan sắc xích thanh đích, phẩm chất hảo.
Cảo Bổn
Vị tân, tính ôn. Chủ trị phụ nữ đích sán giả bệnh, âm trung hàn lãnh, thũng thống, phúc trung cấp thống, năng khứ trừ phong tà dẫn khởi đích đầu thống, sử cơ phu sinh trưởng, dung nhan nhuận trạch. Danh thử quỷ khanh, danh thử địa tân. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Danh Y》thuyết: Danh thử vi kinh. Sinh trưởng tại Sùng Sơn. Chánh nguyệt, nhị nguyệt thái oạt căn bộ, phơi can, tam thập thiên hoàn thành.
Khảo chứng: 《Quảng Nhã》thuyết: Sơn chỉ, uất hương, tựu thị cảo bổn.《Quản Tử·Địa Viên Thiên》thuyết: Ngũ chủng khí vị trung, trù loại sinh trưởng cảo bổn.《Tuân Tử·Đại Lược Thiên》thuyết: Lan thảo, bạch chỉ, cảo bổn, tẩm phao tại điềm tửu trung, bội đái nhất thứ tựu yếu canh hoán. Phàn Quang chú thích《Nhĩ Nhã》thuyết: Cảo bổn, danh thử di vô, căn danh khiếu tân chỉ. Cựu bản tả tác , bất đối.
Thạch Vi
Vị khổ, tính bình. Chủ trị lao nhiệt tà khí, ngũ chủng lán bế bất thông, năng thông lợi tiểu tiện thủy đạo. Danh thử thạch . Sinh trưởng tại sơn cốc trung đích thạch đầu thượng.
《Danh Y》thuyết: Danh thử thạch bì. Sinh trưởng tại Hoa Âm sơn cốc. Bất thính đáo thủy lưu thanh hòa nhân thanh đích địa phương sản đích, phẩm chất hảo. Nhị nguyệt thái thu diệp tử, âm can.
Bì Giải
Vị khổ, tính bình. Chủ trị yêu bối thống thống, năng cường kiện cốt tiết, trị liệu phong hàn thấp tí, chu thân tí thống, ác sang bất dũ, nhiệt khí. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Danh Y》thuyết: Danh thử xích tiết. Sinh trưởng tại Chân Định. Bát nguyệt thái oạt căn bộ, phơi can.
Khảo chứng: 《Bác Vật Chí》thuyết: Bạt khiết, dữ bì giải dung dịch hỗn hào.
Bạch Vi
Vị khổ, tính bình. Chủ trị đột nhiên trúng phong, thân thể phát nhiệt, tứ chi trướng mãn, thần chí hoảng hốt bất nhận nhân, cuồng loạn mê hoặc, tà khí, hàn nhiệt toan thống, ôn ngược phạ lãnh, phát tác hữu nhất định thời gian. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Danh Y》thuyết: Danh thử bạch mạc, danh thử vi thảo, danh thử xuân thảo, danh thử cốt mỹ. Sinh trưởng tại bình nguyên. Tam nguyệt tam nhật thái oạt căn bộ, âm can.
Thủy Bình
Vị tân, tính hàn. Chủ trị đột nhiên phát nhiệt, thân thể tảo dương (dẫn từ《Nghệ Văn Loại Tụ》《Sơ Học Ký》tác “dương”, thử xứ đồng), năng khứ trừ thủy khí, giải tửu độc, sinh trưởng tu phát (dẫn từ《Nghệ Văn Loại Tụ》tác “ô phát”), trị liệu tiêu khát bệnh. Trường kỳ phục dụng, năng sử thân thể khinh kiện. Danh thử thủy hoa (dẫn từ《Nghệ Văn Loại Tụ》thuyết: Danh thử thủy liêm). Sinh trưởng tại trì chiếu trung.
《Ngô Phổ》thuyết: Thủy bình, danh thử thủy liêm. Sinh trưởng tại thủy trạch thượng. Diệp tử viên nhi tiểu, nhất kinh nhất diệp, căn tẩm tại thủy trung. Ngũ nguyệt khai bạch hoa, tam nguyệt thái thu, phơi can (dẫn từ《Ngự Lãm》).
《Danh Y》thuyết: Danh thử thủy bạch, danh thử thủy tô. Sinh trưởng tại Lôi Trạch. Tam nguyệt thái thu, phơi can.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn》thuyết: Bình, tựu thị , vô căn, phù tại thủy diện sinh trưởng đích. Bình, tựu thị bình. KT, tựu thị đại bình.《Quảng Nhã》thuyết: KT, tựu thị bình.《Hạ Tiểu Chánh》thuyết: Thất nguyệt tích thủy trung sinh xuất bình.《Nhĩ Nhã》thuyết: Bình, tựu thị . Quách Phác chú thích thuyết: Thủy trung đích phù bình, Giang Đông nhất đới xưng chi vi KT. Hựu thuyết đại đích, tác .《Mao Thi》thuyết: Đáo hà xứ thái tập?《Truyện》giải thích thuyết: , tựu thị đại bình.《Phạm Tử Kế Nhiên》thuyết: Thủy bình, sản vu Tam Phụ. Nhan sắc thanh đích, phẩm chất hảo.《Hoài Nam Tử·Nguyên Đạo Huấn》thuyết: Bình bả thụ căn trường tại thủy lí. Cao Dụ chú thích thuyết: Bình, tựu thị đại .
Vương Qua
Vị khổ, tính hàn. Chủ trị tiêu khát bệnh, nội bộ tí trở, ứ huyết, nguyệt kinh bế chỉ, hàn nhiệt vãng lai, thân thể toan thống, năng bổ ích chính khí, trị liệu nhĩ lung. Danh thử thổ qua. Sinh trưởng tại bình địa thượng.
《Danh Y》thuyết: Sinh trưởng tại Lỗ địa đích dã điền dĩ cập nhân gia đích tường viến chi gian. Tam nguyệt thái oạt căn bộ, âm can.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn》thuyết: , tựu thị vương .《Quảng Nhã》thuyết: Quỳ nhự, qua, tựu thị vương qua.《Hạ Tiểu Chánh》thuyết: Tứ nguyệt vương qua sinh trưởng. Quách Phác chú thích thuyết: Câu, tựu thị , danh thử vương qua, quả thực tượng qua, chánh hồng sắc, vị khổ.《Nguyệt Lệnh》thuyết: Vương qua sinh trưởng. Trịnh Huyền chú thích thuyết: 《Nguyệt Lệnh》thuyết vương sinh trưởng. Khổng Dĩnh Đạt giải thích thuyết: Hoài nghi vương, tựu thị vương qua.《Quản Tử·Địa Viên Thiên》thuyết: Tại phiêu thổ chi hậu thị ngũ sa thổ, thích hợp chủng thực đại tế, bạch hành thanh sao nhi trình mạn sinh.《Bản Thảo Đồ Kinh》thuyết: Đại, tựu thị vương . Hốt, dã khiếu tác thổ qua, tòng
Địa Du
Vị khổ, tính vi hàn. Chủ trị phụ nữ nhũ bộ thống thống, thất thương, đới hạ bệnh, năng chỉ thống, tiêu trừ ác nhục, chỉ hãn, trị liệu đao kiếm ngoại thương (dẫn từ《Ngự Lãm》thượng diện thuyết: Chủ trị tiêu tửu. Hựu thuyết: Minh mục.《Đại Quan Bản Thảo》bả “tiêu tửu” tác vi hắc tự, nhi một hữu “minh mục”). Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Danh Y》thuyết: Sinh trưởng tại Đồng Bách dĩ cập Uyên Cú. Nhị nguyệt, bát nguyệt thái oạt căn bộ, phơi can.
Khảo chứng: 《Quảng Nhã》thuyết: , tựu thị địa du. Đào Hoằng Cảnh thuyết: Diệp tử tượng du diệp đản canh trường, sơ sinh thời phô tại địa thượng, hoa hòa chủng tử thị tử hắc sắc đích, tượng đậu xỉ, sở dĩ danh ngọc xỉ.
Hải Tảo
Vị khổ, tính hàn. Chủ trị anh lũ khí kết, cảnh hạ hạch thũng, năng phá trừ tán khai kết tụ chi khí, ung thũng, chứng giả, kiên ngạnh đích khối, phúc trung thượng hạ minh hưởng, năng thối tiêu thập nhị chủng thủy thũng. Danh thử lạc thủ. Sinh trưởng tại trì chiếu trung.
《Danh Y》thuyết: Danh thử . Sinh trưởng tại Đông Hải. Thất nguyệt thất nhật thái thu, phơi can.
Khảo chứng: 《Thuyết Văn》thuyết: , thị thủy thảo, hữu đích tả tác tảo.《Quảng Nhã》thuyết: Hải la, tựu thị hải tảo.《Nhĩ Nhã》thuyết: Hao, tựu thị hải tảo. Quách Phác chú thích thuyết: Thị dược thảo. Danh thử hải la, tượng loạn phát, sinh trưởng tại hải trung.《Bản Thảo》thuyết: Hoàn hữu , tựu thị thạch y. Quách Phác chú thích thuyết: Thị thủy thai, danh thử thạch phát, Giang Đông nhân thực dụng tha, hữu đích thuyết khiếu . Diệp tử tượng KT nhi đại, sinh trưởng tại thủy để, dã khả dĩ thực dụng.
Trạch Lan
Vị khổ, tính vi ôn. Chủ trị bộ nhũ phụ nữ nội huyết xuất (dẫn từ《Ngự Lãm》tác “nữ huyết”), trúng phong hậu di chứng, đại phúc thủy thũng, thân thể diện bộ tứ chi phù thũng, cốt tiết trung hữu thủy, đao kiếm ngoại thương, ung thũng, sang dương hóa nùng. Danh thử hổ lan, danh thử long táo. Sinh trưởng tại đại thủy trạch biên.
《Ngô Phổ》thuyết: Trạch lan, danh thử thủy hương. Thần Nông, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Đồng Quân nhận vi: Vị toan, vô độc; Lý Thị nhận vi: Tính ôn. Sinh trưởng tại đê oạt địa thủy biên. Diệp tử tượng lan thảo, nhị nguyệt sinh trưởng, hữu hương khí, kinh tiết hồng sắc, tứ phiến diệp tử tương đối sinh trưởng tại chi tiết chi gian.
《Danh Y》thuyết: Danh thử hổ bồ. Sinh trưởng tại Nhữ Nam. Tam nguyệt tam nhật thái thu, âm can.
Khảo chứng: 《Quảng Nhã》thuyết: Hổ lan, tựu thị trạch lan.
Phòng Kỷ
Vị tân, tính bình. Chủ trị phong hàn ôn ngược, nhiệt khí dẫn khởi đích các chủng ung sang, năng khứ trừ tà khí, thông lợi đại tiểu tiện. Danh thử giải ly (dẫn từ《Ngự Lãm》tác “thạch giải”, tịnh dẫn dụng thuyết: Năng sơ thông thấu lý, thông lợi cửu khiếu.《Đại Quan Bổn》giá lục cá tự thị hắc tự). Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Ngô Phổ》 nói: Mộc phòng kỷ, còn gọi là Giải ly, còn gọi là Giải yến. Thần Nông nói: vị cay; Hoàng Đế, Kỳ Bá, Đồng Quân nói: vị đắng, không độc; Lý thị nói: tính đại hàn. Hình dạng giống như nãi, thân mọc leo lan tràn, giống như giao, rễ màu trắng, vỏ ngoài màu vàng giống như cát cánh, bên trong lại đen giống như bánh xe nứt ra. Tháng hai, tháng tám, tháng mười thu hái rễ (theo _Ngự Lãm_).
《Danh y》 nói: Mọc ở Hán Trung. Tháng hai, tháng tám thu hái rễ, âm can.
Án: 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Phòng kỷ, sản xuất ở Hán Trung Tuần Dương.
Khoản đông hoa
Vị cay, tính ôn. Chủ trị ho suyễn khí nghịch lên xông, dễ suyễn, yết hầu sưng đau, các loại chứng kinh giản, cùng với hàn nhiệt tà khí. Lại gọi là Thác ngô (theo _Ngự Lãm_ làm Thạch), lại gọi là Khoả đông (theo _Ngự Lãm_ làm Khoả đông), lại gọi là Hổ tu, lại gọi là Miễn hề. Mọc trong sơn cốc.
《Ngô Phổ》 nói: Khoản đông, tháng mười hai nở hoa vàng trắng (theo _Nghệ Văn Loại Tụ_).
《Danh y》 nói: Lại gọi là Thị đông, mọc ở Thường Sơn và gần bờ nước ở Thường Sơn. Tháng mười một thu hái hoa, âm can.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Khổ tụy, chính là Khoản đông. 《Nhĩ Nhã》 nói: Thỏ hề, chính là Khoả đông. Quách Phác nói: Chính là Khoản đông. Màu tím đỏ, mọc trong nước. 《Tây Kinh Tạp Ký》 nói: Khoản đông, nở hoa vào mùa đông giá rét. Phó Hàm 《Khoản đông phú》 tự nói: giữa mùa đông, băng tuyết chất đống, Khoản đông một mình nở ra đóa hoa tươi đẹp.
Mẫu đơn
Vị đắng cay, tính hàn. Chủ trị hàn nhiệt, trúng phong, co giật, co quắp, kinh giản tà khí, tiêu trừ bụng cứng khối, ứ huyết đọng lại trong trường vị, an định ngũ tạng, trị ung thương. Lại gọi là Lộc cửu, lại gọi là Thử cô. Mọc trong sơn cốc.
《Ngô Phổ》 nói: Mẫu đơn, Thần Nông, Kỳ Bá nói: vị cay; Lý thị nói: tính tiểu hàn; Lôi Công, Đồng Quân nói: vị đắng, không độc; Hoàng Đế nói: vị đắng, có độc. Lá giống như bồng thảo giao nhau mọc, rễ giống như bách thụ màu đen, ở giữa có hạch. Tháng hai thu hái, tháng tám thu hái, phơi khô. Người ăn nó, có thể khiến thân thể nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ (theo _Ngự Lãm_).
《Danh y》 nói: Mọc ở Ba Quận và Hán Trung. Tháng hai, tháng tám thu hái rễ, âm can.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Chính là Bạch truật.
Mã tiên hao
Vị bình. Chủ trị hàn nhiệt quỷ chú, trúng phong thấp tý, nữ tử hạ đới bệnh, bất dự. Lại gọi là Mã niệu hao. Mọc trong bụi cỏ ven nước.
《Danh y》 nói: Mọc ở Nam Dương.
Án: 《Thuyết Văn》 nói: Úy, chính là Mẫu hao. 《Quảng Nhã》 nói: Nhân trần, chính là Mã tiên. 《Nhĩ Nhã》 nói: Úy, chính là Mẫu hao. Quách Phác nói: Là loại hao không có hạt. 《Mao Thi》 nói: Không phải là nga thảo mà là úy thảo. 《Truyện》 nói: Úy, chính là Mẫu hao. Lục Cơ nói: Tháng ba bắt đầu mọc; tháng bảy nở hoa, hoa giống như hồ ma hoa nhưng màu tím đỏ; tháng tám kết giác, giác giống như tiểu đậu giác, giác nhọn và dài. Lại gọi là Mã tân hao. Án: tân, tiên, âm thanh gần nhau.
Tích tuyết thảo
Vị đắng, tính hàn. Chủ trị đại nhiệt, ác sang, ung thư, diên mạn hồng sắc sang chẩn, da đỏ, thân thể phát nhiệt. Mọc ở ven nước thung lũng.
《Danh y》 nói: Mọc ở Kinh Châu.
Án: Đào Hoằng Cảnh nói: Người Kinh Châu Sở địa vì lá giống như đồng tiền, gọi nó là Địa tiền thảo. Từ Nghi 《Dược Đồ》 gọi nó là Liên tiền thảo. 《Bản Thảo Đồ Kinh》 nói: Hai địa Hàm Dương, Lạc Dương cũng có, lại gọi là Hồ bạc hà.
Nữ uyển
(Theo _Ngự Lãm_ làm Uyển)
Vị cay, tính ôn. Chủ trị phong tà gây ra ác hàn phát run, hoắc loạn tiết tả, trường minh, đau nhức du tẩu bất định, kinh giản, hàn nhiệt.
《Ngô Phổ》 nói: Nữ uyển, lại gọi là Bạch uyển, lại gọi là Thức nữ uyển (theo _Ngự Lãm_).
《Danh y》 nói: Lại gọi là Bạch uyển, lại gọi là Chức nữ uyển, lại gọi là Mão. Mọc ở Hán Trung. Tháng giêng, tháng hai thu hái, âm can.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Nữ tràng, chính là Nữ uyển.
Vương tôn
Vị đắng, tính bình. Chủ trị ngũ tạng tà khí, hàn thấp tý chứng, tứ chi đau nhức toan sở, tất lãnh thống. Mọc ở ven nước thung lũng.
《Ngô Phổ》 nói: Hoàng tôn, lại gọi là Vương tôn, lại gọi là Mạn duyên, lại gọi là Công thảo, lại gọi là Hải tôn. Thần Nông, Lôi Công nói: vị đắng, không độc; Hoàng Đế nói: vị ngọt, không độc. Mọc ở Tây Hải sơn cốc và dưới tường thành ở Nhữ Nam. Mọc lan tràn, có văn đỏ, thân lá tương đối ứng (theo _Ngự Lãm_).
《Danh y》 nói: Người Ngô địa gọi là Bạch công thảo, người Sở địa gọi là Vương tôn; người Tề địa gọi là Trưởng tôn. Lại gọi là Hoàng tôn, lại gọi là Hoàng hôn, lại gọi là Hải tôn, lại gọi là Mạn duyên, mọc ở Hải Tây và dưới tường thành ở Nhữ Nam.
Án: Đào Hoằng Cảnh nói: Hiện nay các phương gia đều gọi nó là Vương hôn, lại gọi là Tráng mông.
Thục dương tuyền
Vị đắng, tính vi hàn. Chủ trị đầu cốt ác sang, nhiệt khí ghẻ lở, ngứa kết vảy, tuyển trùng, trị sâu răng. Mọc ở ven nước thung lũng.
《Danh y》 nói: Lại gọi là Dương tuyền, lại gọi là Di. Mọc ở Thục Quận.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Cô, chính là Ái đản lộc hà, trạch.
Tước sàng
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị yêu tí đau nhức, không thể nằm giường, cúi ngửa khó khăn, thanh trừ nhiệt tà, có thể làm thang tắm. Mọc ở ven nước thung lũng và dã điền.
《Ngô Phổ》 nói: Tước sàng, lại gọi là Tước khanh (theo _Ngự Lãm_).
《Danh y》 nói: Mọc ở Hán Trung.
Án: Biệt bản chú nói: Người đời nay gọi là Hương tô.
Giả tô
Vị cay, tính ôn. Chủ trị hàn nhiệt thử lậu, lũ lị sang, phá trừ kết tụ khí cơ, công hạ ứ huyết, khứ trừ thấp tý. Lại gọi là Thử lậu. Mọc trong bụi cỏ ven nước (trước ở Thái bộ, nay di nhập).
《Ngô Phổ》 nói: Giả tô, lại gọi là Thử thực, lại gọi là Khương giới (theo _Ngự Lãm_), tên là Kinh giới, lá giống như lạc lê nhưng mảnh hơn, người Thục địa ăn sống nó (theo _Thục Bản_ chú).
《Danh y》 nói: Lại gọi là Khương giới. Mọc ở Hán Trung.
Án: Đào Hoằng Cảnh nói: Chính là Kinh giới, Khương, Kinh, là âm thanh sai ngộ. Trước đây quy ở Thảo bộ. Người đời nay ăn nó, ghi chép ở Thái bộ.
Kiều căn
Vị ngọt, tính hàn, bình (theo _Ngự Lãm_ làm vị đắng, tính bình). Chủ trị thanh trừ nhiệt khí, bổ ích âm tinh, khiến người da mặt tốt, sáng mắt. Trường kỳ phục dụng, có thể khiến thân thể nhẹ nhàng, hoãn suy lão. Mọc ở ven nước bình địa (trước ở trong những dược phẩm bị _Đường Bản_ loại bỏ, nay di nhập).
《Ngô Phổ》 nói: Kiều căn, Thần Nông, Lôi Công nói: vị ngọt, có độc. Tháng ba, tháng tám thu hái, dùng để chưng chế, cho bệnh nhân uống rượu (theo _Ngự Lãm_).
《Danh y》 nói: Mọc ở Hao Cao, tháng hai, tháng tám thu hái.
Án: Đào Hoằng Cảnh nói: Phương dược trung không còn sử dụng, dân gian không có người nhận biết nó.
Trên đây Thảo loại, trung phẩm bốn mươi chín loại. Cũ có bốn mươi sáu loại. Xem xét Thái bộ Giả tô và _Đường Bản_ loại bỏ Kiều căn, nên quy nhập loại này.
Tang căn bạch bì
Vị ngọt, tính hàn. Chủ trị nội tạng tổn thương, ngũ lao lục cực, thân thể luy sấu, băng hạ huyết, mạch khí tuyệt đoạn, bổ hư ích khí. Tang diệp: chủ trị khứ trừ hàn nhiệt, xuất hãn. Tang nhĩ hắc sắc: chủ trị nữ tử lậu hạ xích bạch đới, xuất hãn, huyết bệnh, chứng giả tích tụ, có tư bổ tác dụng, trị âm dương hàn nhiệt, bất dự. Ngũ chủng mộc nhĩ thống xưng là nhu, năng ích khí, khiến người không đói, thân thể nhẹ nhàng, tăng cường trí nhớ. Mọc trong sơn cốc.
《Danh y》 nói: Tang nhĩ, lại gọi là Tang quân, lại gọi là Mộc mạch. Mọc ở Kiền Vi. Tháng sáu nhiều mưa thời thu hái, tùy thời phơi khô.
Án: 《Thuyết Văn》 nói: Tang, là lá tằm ăn. Mộc, chính là mộc nhĩ. Tấn, chính là tang nhĩ. 《Nhĩ Nhã》 nói: Tang thụ bán biền có thực quả gọi là Chi. Xá nhân nói: Tang thụ, một nửa có thực quả, một nửa không có thực quả, gọi là Chi. Quách Phác nói: Biền, chính là một nửa. Lại Nữ tang, Di tang, Quách Phác nói: Hiện nay dân gian xưng hô tang thụ trung thân cây thấp nhỏ, cành dài, là Nữ tang thụ. Lại Sơn tang, Quách Phác nói: Giống như tang thụ, gỗ thích hợp làm cung và xe loan. Lại Tang liễu hoè điều, Quách Phác nói: Mềm yếu rủ xuống chi.
Trúc diệp
Vị đắng, tính bình. Chủ trị ho suyễn khí nghịch lên xông, cân câu cấp, ác sang, sát tử tiểu trùng. Trúc căn: nấu thang phục dụng, năng ích khí chỉ khát, bổ hư giáng khí. Trúc trấp: chủ trị phong bệnh. Trúc thực: năng thông xướng thần minh, khiến thân thể nhẹ nhàng, ích khí.
《Danh y》 nói: Mọc ở Ích Châu.
Án: 《Thuyết Văn》 nói: Trúc, là thảo mọc vào mùa đông. Tượng hình, phía dưới rủ xuống, là nhược, chính là vỏ ngoài của trúc duệ.
Ngô thù du
(Theo _Ngự Lãm_ dẫn không có chữ Ngô, là như vậy)
Vị tân, tính ôn. Chủ trị: ôn trung tán hàn, giáng khí, chỉ thống, ho suyễn khí nghịch, hàn nhiệt, khử trừ thấp tà, huyết tý, trục tán phong tà, khai khiến thấu lý. Ngô thù du căn: sát diệt tam trùng. Lại danh, sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Danh y》thuyết: sinh trưởng tại Uyên Cú. Ngày 9 tháng 9 thu hái, âm can.
Án: 《Thuyết văn》thuyết: Chu, chính là thù du nhất loại. Du, chính là thù du. Tiễn, chính là thù du, 《Hán luật》ký tái: Cối Kê quận tiến hiến nhất đẩu. 《Quảng nhã》thuyết: , Giả, Đáng, Việt, đều là thù du. 《Tam thương》thuyết: , chính là thù du (Ngự lãm). 《Nhĩ nhã》thuyết: Tiêu, Sát, Xú. Quách Phác thuyết: Thù du chi thực, tụ sinh thành phòng trạng, hiện tại Giang Đông cũng xưng chi vi , tượng thù du đãn giảo tiểu, hồng sắc. 《Lễ ký》thuyết: Tế tự tam sinh dụng . Trịnh Huyền thuyết: Tiễn, chính là thù du, 《Hán luật》thuyết Cối Kê quận tiến hiến chi, 《Nhĩ nhã》xưng chi vi . 《Phạm Tử Kế Nhiên》thuyết: Thù du, xuất sản vu Tam Phụ. Đào Hoằng Cảnh thuyết: 《Lễ ký》xưng chi vi , nhi dân gian tục xưng chi vi tử. Ưng đương thị bất nhận thức tự, tượng thị tạp tự, nhưng tượng thử tương truyền.
Chỉ tử
(Cựu tác Chi, 《Nghệ văn loại tụ》hòa 《Ngự lãm》dẫn dụng thời tác Chi, thị giá dạng)
Vị khổ, tính hàn. Chủ trị: ngũ tạng nội bộ tà khí, vị trung nhiệt khí, diện bộ phát hồng, tửu tao tị, bạch lại, xích lại, sang dương. Hựu danh Mộc đan. Sinh trưởng tại thủy biên cốc địa.
《Danh y》thuyết: Hựu danh Việt đào. Sinh trưởng tại Nam Dương. Tháng 9 thu hái quả thực, phơi khô.
Án: 《Thuyết văn》thuyết: Chi, thị hoàng sắc chi mộc tài, khả dụng lai nhiễm sắc chi. 《Quảng nhã》thuyết: Chi tử, tựu thị đào. 《Sử ký·Hóa thực truyện》thuyết: Ba Thục địa khu thịnh sản chi. 《Tập giải》thuyết: Từ Quảng thuyết: âm chi, thị yên chi; tử, thị xích sắc. Căn cư 《Thuyết văn》ưng cai thị chi.
Ngô di
Vị tân. Chủ trị: ngũ tạng nội chi tà khí, năng tán phát bì phu hòa cốt tiết trung mạn diên lưu động chi nhiệt độc, khử trừ tam trùng, bang trợ tiêu hóa thực vật. Hựu danh Vô cô, hựu danh Điện đường (Ngự lãm dẫn thuật thuyết: năng khu trừ thốn bạch trùng, tiêu tán phúc trung ôn nhiệt suyễn tức. Đại quán bản tác hắc tự). Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Danh y》thuyết: Hựu danh Điện đường. Sinh trưởng tại Tấn địa chi sơn thượng. Tháng 3 thu hái quả thực, âm can.
Án: 《Thuyết văn》thuyết: Ngạnh, thị sơn du, hữu thúc trạng chi giáp quả, khả dụng lai chế tác ngô di. 《Quảng nhã》thuyết: Sơn du, tựu thị mẫu cô. 《Nhĩ nhã》thuyết: Di, tựu thị . Quách Phác thuyết: nhất danh bạch quĩ, hựu danh vô cô, kỳ thực gọi di. Quách Phác thuyết: Vô cô, tựu thị cô du. Sinh trưởng tại sơn trung, diệp tử viên nhi hậu, bác thủ thụ bì hợp tại nhất khởi tẩm, kỳ vị tân hương, tựu thị sở vị chi ngô di. 《Phạm Tử Kế Nhiên》thuyết: Ngô di tại địa lý, trung tâm thị hồng sắc, phẩm chất hảo.
Chỉ thực
Vị khổ, tính hàn. Chủ trị: phong tà tại bì phu trung, tượng ma đậu nhất dạng phát dương (Ngự lãm tác đàm, bất đối). Năng tiêu trừ hàn nhiệt kết tụ, chỉ lỵ (cựu tác lỵ, Ngự lãm tác lợi, thị đối). Sử cơ nhục sinh trưởng, đối ngũ tạng hữu lợi, bổ ích nguyên khí, sử thân thể khinh kiện. Sinh trưởng tại trạch địa.
《Ngô Phổ》thuyết: Chỉ thực, vị khổ. Lôi Công thuyết: vị toan, vô độc; Lý Thị thuyết: tính đại hàn. Tháng 9, tháng 10 thu hái, âm can (Ngự lãm). 《Danh y》thuyết: Sinh trưởng tại Hà Nội, tháng 9, tháng 10 thu hái, âm can.
Án: 《Thuyết văn》thuyết: Chỉ mộc tượng cát thụ. 《Chu lễ》thuyết: Cát thụ quá liễu Hoài Thủy tựu biến thành chỉ. Thẩm Quát 《Bút đàm》thuyết: Lục triều dĩ tiền, y phương trung chỉ hữu chỉ thực, một hữu chỉ xác, hậu nhân dụng chỉ thụ tiểu, nộn chi quả thực, tác chỉ thực; đại chi, tác chỉ xác.
Hậu phác
Vị khổ, tính ôn. Chủ trị: trúng phong, thương hàn, đầu thống, hàn nhiệt, kinh quý khí, huyết tý đạo trí cơ nhục thất khứ tri giác, khử trừ tam trùng.
《Ngô Phổ》thuyết: Hậu phác, Thần Nông, Kỳ Bá, Lôi Công thuyết: vị khổ, vô độc; Lý Thị thuyết: tính tiểu ôn (Ngự lãm dẫn thuật thuyết: hựu danh nùng bì. Sinh trưởng tại Giao Chỉ).
《Danh y》thuyết: Hựu danh Nùng bì, hựu danh Xích phác. Kỳ thụ gọi là Trăn, kỳ quả thực gọi là Trục. Sinh trưởng tại Giao Chỉ Uyên Cú. Tháng 9, tháng 10 thái bì, âm can.
Án: 《Thuyết văn》thuyết: Phác, thị thụ bì, Trăn mộc. 《Quảng nhã》thuyết: Trọng bì, tựu thị hậu phác. 《Phạm Tử Kế Nhiên》thuyết: Hậu phác, xuất sản vu Hoằng Nông. Án: hiện tại tập tục đem trăn đương tác thân, bất tri đạo thị hậu phác. 《Thuyết văn》trung trăn lật, tự tả tác thân.
Tần bì
Vị khổ, tính vi hàn. Chủ trị: phong hàn thấp tý, phạ lãnh ác hàn, thanh trừ nhiệt tà, trị liệu nhãn trung thanh ế, bạch mạc. Trường kỳ phục dụng, đầu phát bất bạch, thân thể khinh kiện. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Ngô Phổ》thuyết: Sầm bì, hựu danh Tần bì. Thần Nông, Lôi Công, Hoàng Đế, Kỳ Bá thuyết: vị toan, vô độc; Lý Thị thuyết: tính tiểu, hữu đích sinh trưởng tại Uyên Cú thủy biên. Tháng 2, tháng 8 thu hái (Ngự lãm).
《Ngô Phổ》thuyết: Hựu danh Sầm bì, hựu danh Thạch đàn. Sinh trưởng tại Lư Giang hòa Uyên Cú. Tháng 2, tháng 8 thái bì, âm can.
Án: 《Thuyết văn》thuyết: , thị thanh bì mộc, hoặc tả tác KT. 《Hoài Nam Tử·Thích chân huấn》thuyết: Mộc, nhan sắc thanh ế. Cao Dụ thuyết: Mộc, thị khổ lịch mộc. Sinh trưởng tại sơn thượng, bác thủ kỳ bì, dụng thủy tẩm, nhan sắc chính thanh, dụng lai tẩy nhãn, năng trị dũ nhân nhãn trung phu ế. Căn cư 《Ngô Phổ》thuyết: Sầm bì, danh vi Tần bì, 《Bản kinh》tả tác Tần bì, thị hậu nhân dụng tục xưng cải chi, ưng cai thị Sầm bì.
Tần tiêu
Vị tân, tính ôn. Chủ trị: phong tà khí, ôn noãn trung tiêu, tiêu trừ hàn tý, kiên cố răng tóc, sử nhãn tinh minh. Trường kỳ phục dụng, năng sử thân thể khinh kiện, khí sắc hảo, diên hoãn suy lão, tăng gia thọ mệnh, thông đạt thần minh. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Danh y》thuyết: Sinh trưởng tại Thái Sơn hòa Tần Lĩnh thượng, hoặc Lang Gia. Tháng 8, tháng 9 thu hái quả thực.
Án: 《Thuyết văn》thuyết: Thục, thị thục, thị thục. Thục chi quả thực tượng bì cừu nhất dạng bao trứ, tiêu tượng thù du, xuất tự 《Hoài Nam Tử》. 《Quảng nhã》thuyết: Tiêu, thị thù du. 《Bắc sơn kinh》thuyết: Cảnh Sơn đa sản tần tiêu. Quách Phác thuyết: quả thực tượng tiêu đản diệp tử tế tiểu. 《Nhĩ nhã》thuyết: , thị đại tiêu. Quách Phác thuyết: hiện tại chi tiêu thụ tùng sinh, quả thực đại chi, gọi là . Hựu thuyết tiêu, xú. Quách Phác thuyết: du chi quả thực tụ tập thành phòng trạng chi dạng tử. Hiện tại Giang Đông cũng xưng tác KT, tượng thù du đản tiểu, hồng sắc. 《Mao thi》thuyết: Tiêu liêu chi quả thực. 《Truyện》thuyết: Tiêu liêu, tựu thị tiêu. Lục Ky thuyết: Tiêu thụ, tượng thù du, hữu châm thứ, diệp tử kiên ngạnh nhi quang hoạt nhuận trạch, Thục địa nhân dụng lai tố trà, Ngô địa nhân dụng lai tố minh, đô nhất khởi chử kỳ diệp tử lai hoạch đắc hương khí. 《Phạm Tử Kế Nhiên》thuyết: Tần tiêu, xuất sản vu Thiên Thủy Lũng Tây, tế chi, phẩm chất hảo. 《Hoài Nam Tử·Nhân gian huấn》thuyết: Thân tiêu, Đỗ, thị mỹ nhân sở ái hảo bội đái chi. Cựu tác tiêu, bất đối. Căn cư 《Sơn hải kinh》hữu tần tiêu, sinh trưởng tại Văn Hỷ Cảnh Sơn, na ma tần, bất thị Tần địa chi Tần.
Sơn thù du
Vị toan, tính bình. Chủ trị: tâm hạ tà khí, hàn nhiệt, ôn noãn trung tiêu, khu tán hàn thấp tý, khử trừ tam trùng. Trường kỳ phục dụng, năng sử thân thể khinh kiện. Hựu danh Thục táo. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Ngô Phổ》thuyết: Sơn thù du, hựu danh Bá thực, hựu danh Thử thỉ, hựu danh Kê túc. Thần Nông, Hoàng Đế, Lôi Công, Biển Thước thuyết: vị toan, vô độc; Kỳ Bá thuyết: vị tân; nhất kinh thuyết: vị toan. Hữu đích sinh trưởng tại Uyên Cú, Lang Gia, hoặc Đông Hải Thừa huyện. Diệp tử tượng mai thụ, hữu thứ mao, tháng 2, hoa tượng hạnh hoa; tháng 4, quả thực tượng toan táo, hồng sắc; tháng 5 thu hái quả thực (Ngự lãm).
《Danh y》thuyết: Hựu danh Kê túc, hựu danh Bá thực, sinh trưởng tại Hán Trung hòa Lang Gia, Uyên Cú, Đông Hải Thừa huyện. Tháng 9, tháng 10 thu hái quả thực, âm can.
Tử uy
Vị toan (Ngự lãm tác hàm), tính vi hàn. Chủ trị: phụ nhân sản hậu dư tật, băng trung, chứng hà huyết bế, hàn nhiệt đạo trí thân thể suy nhược, năng dưỡng thai. Sinh trưởng tại sơn cốc trung.
《Ngô Phổ》 nói: Tử Vy, còn gọi là Vũ Uy, còn gọi là Cù Mạch, còn gọi là Lăng Cư Phúc, còn gọi là Quỷ Mục, còn gọi là Lung Hoa. Thần Nông, Lôi Công nói: vị chua; Kỳ Bá nói: vị cay; Biển Thước nói: vị đắng, mặn; Hoàng Đế nói: vị ngọt, không độc. Rễ giống như mạch, màu đen. Tháng giêng, tháng tám hái. Có loại mọc ở Chân Định (ngự lãm).
《Danh Y》 nói: còn gọi là Lăng Thiều, còn gọi là Lung Hoa. Mọc ở Tây Hải và Sơn Dương.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Tử Vy, chính là Lăng Thiều, Cù Mạch. 《Nhĩ Nhã》 nói: Thiều, là Lăng Thiều. Quách Phác nói: còn gọi là Lăng Thì. 《Bản Thảo》 nói: lại có hoa vàng, hoa trắng. Quách Phác nói: Thiều, hoa, màu sắc khác nhau, tên gọi cũng khác. 《Mao Thi》 nói: Hoa của Thiều. 《Truyện》 nói: Thiều, là Lăng Thiều. 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: Tử Vy, sản xuất ở Tam Phụ. Lý Đương Chi nói: là rễ của Cù Mạch. Theo lời Lý thì hợp với 《Quảng Nhã》. Mà chú thích 《Đường Bổn》 dẫn chú thích 《Nhĩ Nhã》 có bốn chữ "một tên Lăng Tiêu", nói chính là hoa Lăng Tiêu, Lục Cơ cho là Thử Vĩ, nghi đều không đúng, nên không dùng.
Trư Linh
Vị ngọt, tính bình. Chủ trị bệnh ngược, giải trừ trùng độc (ngự lãm chép là "chú") bất tường, thông lợi thủy đạo. Dùng lâu dài, khiến thân thể nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ (ngự lãm chép là "năng lão"). Còn gọi là Trư Niệu. Mọc ở trong núi khe.
《Ngô Phổ》 nói: Trư Linh, Thần Nông nói: vị ngọt; Lôi Công nói: vị đắng, không độc (ngự lãm dẫn nói: giống như Phục Linh, có loại mọc ở Oan Cú, tháng tám hái).
《Danh Y》 nói: Mọc ở Hành Sơn và Tế Âm Oan Cú. Tháng hai, tháng tám hái, phơi trong bóng râm.
Án: 《Trang Tử》 nói: Thỉ Linh. Tư Mã Bưu chú là Thỉ Nang, nói: còn gọi là Trư Linh, rễ giống như trứng heo, có thể dùng chữa tiêu khát.
Bạch Kích
Vị cay, tính hàn. Chủ trị tâm phúc đau nhức, ung thũng nung mủ, chỉ thống. Còn gọi là Kích Châm. Mọc ở trong núi khe.
《Danh Y》 nói: còn gọi là Kích Thứ. Mọc ở Ung Châu.
Án: 《Thuyết Văn》 nói: Kích, là cây táo nhỏ mọc thành bụi. 《Nhĩ Nhã》 nói: Mạo Điên Kích. Tôn Viêm nói: còn gọi là Bạch Kích. Lý Đương Chi nói: đây là gai của cây Toan Táo, người nay dùng mầm của Thiên Môn Đông thay thế nó, không phải thật. Án: 《Kinh》 nói: Thiên Môn Đông, còn gọi là Điên Lặc. Lặc, Kích, âm thanh gần nhau, thì người nay dùng nó, cũng không phải không có nguyên nhân.
Long Nhãn
Vị ngọt, tính bình. Chủ trị ngũ tạng tà khí, an định thần chí, tiêu trừ chán ăn. Dùng lâu dài, khiến hồn phách cường kiện, tai thính mắt sáng, thân thể nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ, thông đạt thần minh. Còn gọi là Ích Trí. Mọc ở trong núi khe.
《Ngô Phổ》 nói: Long Nhãn, còn gọi là Ích Trí. 《Yếu Thuật》 nói: còn gọi là Tỷ Mục (ngự lãm).
《Danh Y》 nói: Trong đó loại lớn, giống như Tân Lang. Mọc trên cây tùng ở Nam Hải. Tháng năm hái, phơi trong bóng râm.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Ích Trí, chính là Long Nhãn. Lưu Đạt chú 《Ngô Đô Phú》 nói: Long Nhãn, giống như Lệ Chi nhưng nhỏ, tròn như viên đạn, vị ngọt, hơn Lệ Chi, Thương Ngô, Giao Chỉ, Nam Hải, Hợp Phố, đều tiến cống nó, dân trong núi cũng trồng nó.
Tùng La
Vị đắng, tính bình. Chủ trị do giận dữ gây ra tà khí, chỉ hư hãn, đầu phong, nữ tử âm hàn, thũng bệnh. Còn gọi là Nữ La. Mọc ở trong núi khe.
《Danh Y》 nói: Mọc ở Hùng Nhĩ Sơn.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Nữ La, chính là Tùng La. 《Mao Thi》 nói: Điểu dữ Nữ La. 《Truyện》 nói: Nữ La, Thố Ty, chính là Tùng La. Lục Cơ nói: Tùng La, tự mình leo bám trên cây tùng, cành chính sắc xanh, khác với Thố Ty.
Vệ Mâu
Vị đắng, tính hàn. Chủ trị nữ tử băng trung hạ huyết, phúc bộ trướng mãn xuất hãn, khu trừ tà khí, sát diệt quỷ độc, trùng chú. Một tên khác là Quỷ Tiễn. Mọc ở trong núi khe.
《Ngô Phổ》 nói: Quỷ Tiễn, một tên khác là Vệ Mâu. Thần Nông, Hoàng Đế, Đồng Quân: vị đắng, không độc. Lá, giống như lá đào, hình lông vũ. Tháng giêng, tháng hai, tháng bảy hái, phơi trong bóng râm. Có loại mọc ở đồng ruộng (ngự lãm).
《Danh Y》 nói: Mọc ở Hoắc Sơn. Tháng tám hái, phơi trong bóng râm.
Án: 《Quảng Nhã》 nói: Quỷ Tiễn, chính là Thần Tiễn. Đào Hoằng Cảnh nói: Trên thân nó có ba mảnh hình lông vũ, hình dạng giống như mũi tên.
Hợp Hoan
Vị ngọt, tính bình. Chủ yếu an định ngũ tạng, có lợi tâm chí (Nghệ Văn Loại Tụ chép là "hòa tâm chí", ngự lãm chép là "hòa tâm khí"). Khiến người vui vẻ không ưu sầu. Dùng lâu dài, thân thể nhẹ nhàng, mắt sáng, dục vọng thỏa mãn. Mọc ở trong núi khe.
《Danh Y》 nói: Mọc ở Ích Châu.
Án: Chú thích 《Đường Bổn》 nói: có loại gọi là Hạp Hôn, hoan, hôn, âm đọc gần nhau. 《Nhật Hoa Tử》 nói: Dạ Hợp.
Phần trên Mộc, Trung phẩm mười bảy loại, sách cũ giống nhau.
Bạch Mã Kinh
Vị mặn, tính bình. Chủ trị thương trung mạch tuyệt, âm khí bất khởi, cường kiện ý chí, bổ ích nguyên khí, tăng trưởng cơ nhục, thân thể mập mạnh khỏe mạnh, có thể sinh con. Nhãn: Chủ trị kinh si, phúc bộ trướng mãn, ngược tật, nên giết chết rồi dùng. Huyền Đề: Chủ trị kinh tà, co giật, nan sản, bài trừ ác khí, quỷ độc, trùng chú, bất tường. Mọc ở 《Danh Y》 nói: Mọc ở Vân Trung.
Lộc Nhung
Vị ngọt, tính ôn. Chủ trị lậu hạ ác huyết, hàn nhiệt, kinh si, bổ ích nguyên khí, cường kiện ý chí, sinh trưởng răng, kéo dài tuổi thọ. Giác, chủ trị ác sang ung thũng, khu trục tà ác chi khí, lưu huyết tại âm trung.
《Danh Y》 nói: Nhung, tháng tư, tháng năm thay sừng thì lấy, phơi trong bóng râm, khi dùng để cho khô. Giác, tháng bảy hái.
Ngưu Giác (Xuyên)
Chủ trị hạ bế huyết, ứ huyết đau nhức, nữ nhân đới hạ huyết. Tủy: bổ ích trung tiêu, điền mãn tủy xương. Dùng lâu dài, tăng thêm tuổi thọ. Đởm: có thể... Án: 《Thuyết Văn》 nói: Xuyên, xương trong góc.
Cổ Dương Giác
Vị mặn, tính ôn. Chủ trị thanh manh, minh mục, sát giới trùng, chỉ hàn tả, bài trừ ác quỷ hổ lang, chỉ kinh quý. Dùng lâu dài, an tâm, ích khí, khinh thân. Mọc ở xuyên cốc.
《Danh Y》 nói: Mọc ở Hà Tây. Hái không định thời.
Án: 《Thuyết Văn》 nói: Cổ, Hạ Dương, mẹ dê gọi là Cổ. 《Nhĩ Nhã》 nói: Mẹ dê, gọi là Cổ. Quách Phác nói: người nay tiện dùng Tạng, Cổ, làm tên gọi cho dê đen trắng.
Mẫu Cẩu Âm Kinh
Vị mặn, tính bình. Chủ trị thương trung, âm nuy bất khởi, khiến nó cường kiện, phát nhiệt, trường đại, có thể sinh dục, khu trừ nữ tử đới hạ thập nhị chủng tật bệnh. Một tên khác là Cẩu Tinh.
Đởm: chủ trị minh mục.
《Danh Y》 nói: Tháng sáu thượng phục nhật lấy, phơi trong bóng râm một trăm ngày.
Linh Dương Giác
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị minh mục, ích khí, khởi âm, khu trừ ác huyết chú hạ, bài trừ trùng độc ác quỷ bất tường, an tâm khí, thường thường không nặng ghét ngủ. Mọc ở xuyên cốc.
《Danh Y》 nói: Mọc ở Thạch Thành và Hoa Âm Sơn, hái không định thời.
Án: 《Thuyết Văn》 nói: Linh, dê lớn mà sừng nhỏ. 《Quảng Nhã》 nói: đẹp da, linh giác. 《Nhĩ Nhã》 nói: Linh, dê lớn. Quách Phác nói: Linh, giống như dê mà lớn, sừng tròn mà nhọn, thích ở khe núi. Đào Hoằng Cảnh nói: 《Nhĩ Nhã》 tên là Nguyên Dương. Theo 《Thuyết Văn》 nói: Hiện, dê núi sừng nhỏ, từ chân thỏ, mục thanh, phàm loại hiện đều theo hiện, theo chú thích bản thảo, hiện dê giống linh dê, sừng có chạc, tục viết là nguyên. 《Nhĩ Nhã》 nói: Nguyên, như dê. Quách Phác nói: Nguyên, như Ngô Dương mà sừng lớn, sừng hình elip, sản xuất ở phương tây. Hiện, chính là chữ chính của nguyên. Nhưng chữ linh trong 《Bản Kinh》, thực ra là chữ tục viết của chữ linh, nên lấy linh làm chuẩn. 《Nhĩ Nhã》 thích văn dẫn bản thảo, viết là linh.
Tê Giác
Vị đắng, tính hàn. Chủ trị bách độc trùng chú, tà quỷ, chướng khí, sát câu vẫn, chim ác vũ, xà độc, khu trừ bất mê hoặc hoặc ghét ngủ. Dùng lâu dài, khinh thân.
Mọc ở trong núi khe.
《Danh Y》 nói: Mọc ở Vĩnh Xương và Ích Châu.
Án: 《Thuyết văn》 nói: tê, trâu ở ngoài biên giới phía nam, một sừng ở trên mũi, một sừng ở trên đỉnh đầu, giống như lợn. 《Nhĩ nhã》 nói: tê, giống như lợn. Quách Phác nói: hình dạng giống như trâu nước, đầu lợn bụng lớn; chân tê, chân có ba móng, màu đen; ba sừng, một ở trên đỉnh, một ở trên mũi, một ở trên trán. Cái ở trên mũi, chính là sừng ăn. Nhỏ mà hình elip, thích ăn gai góc. Cũng có trường hợp một sừng. 《Sơn hải kinh》 nói: núi Cầm Cổ, nhiều tê trắng. Quách Phác nói: cái này cùng với tê tị hàn, quyên phẫn, tị trần, tị thử, đều là các loại khác nhau. 《Phạm Tử Kế Nhiên》 nói: tê giác, sản xuất ở Nam quận, giá thượng đẳng tám nghìn, trung đẳng ba nghìn, hạ đẳng một nghìn.
Thượng thú, trung phẩm bảy loại. Bản cũ tương đồng.
Yến thỉ
Vị cay, tính bình. Chủ trị độc quỷ chú, khu trừ bất tường tà khí, phá trừ ngũ lung, thông lợi tiểu tiện. Sinh trưởng ở bình cốc.
《Danh y》 nói: sinh trưởng ở cao sơn.
Án: 《Thuyết văn》 nói: yến, huyền điểu. Khai khẩu, bố sí, chi vĩ, tượng hình. Trúc sào, tị khai mậu kỷ, ất, huyền điểu. Tề Lỗ gọi nó là ất, lấy tên tự hô, tượng hình. Có viết là loạn. 《Nhĩ nhã》 nói: yến loạn. 《Hạ tiểu chính》 nói: nhị nguyệt lai giáng, yến nãi đệ. 《Truyện》 nói: yến, ất dã, cửu nguyệt trắc huyền điểu, triếp phục. 《Truyện》 nói: huyền điểu, chính là yến.
Thiên thử thỉ
Vị cay, tính hàn. Chủ trị diện bộ ung thũng, bì phu tẩy tẩy thời đau đớn, tràng trung huyết khí, phá trừ hàn nhiệt tích tụ, khu trừ kinh quý. Một tên khác gọi là thử, một tên khác gọi là thạch can. Sinh trưởng ở sơn cốc.
《Danh y》 nói: sinh trưởng ở Hợp Phố. Tháng mười, tháng mười hai lấy.
Án: Lý Đương Chi nói: chính là phục dực chi thỉ. Lý Vân: thiên thử, 《Phương ngôn》 lại gọi là tiên thử.
Án: Kim bổn 《Phương ngôn》 nói: có gọi là lão thử, nên là chữ thiên sai.
Thượng cầm, trung phẩm hai loại. Bản cũ tương đồng.
Vi bì
Vị đắng, tính bình. Chủ trị ngũ trĩ âm thực, hạ huyết xích bạch ngũ sắc, huyết trấp bất chỉ, âm thũng, đau đớn khiên dẫn yêu bối. Dùng tửu chử hậu sát tử nó. Sinh trưởng ở xuyên cốc.
《Danh y》 nói: sinh trưởng ở Sở sơn điền dã. Thái tập vô định thì.
Án: 《Thuyết văn》 nói: KT, tượng hào trư, có viết là vi. 《Quảng nhã》 nói: hổ vương, chính là vi. 《Nhĩ nhã》 nói: hội, mao thích. Quách Phác nói: hiện tại nói hình dạng giống như thử. 《Hoài Nam Tử·Thuyết sơn huấn》 nói: thước thỉ trúng vi.
Lộ phong phòng
Vị đắng, tính bình. Chủ trị kinh giảo trừu súc, hàn nhiệt tà khí, ngược tật, quỷ tinh cổ độc, tràng trĩ. Dùng hỏa chế, hiệu quả tốt. Một tên khác gọi là phong tràng.
Sinh trưởng ở sơn cốc.
《Danh y》 nói: một tên khác gọi là bách xuyên, một tên khác gọi là phong. Sinh trưởng ở Kha. Tháng bảy ngày bảy thái, âm can.
Án: 《Hoài Nam Tử·Tỉ luận huấn》 nói: phong phòng bất dung nạp noãn. Cao Dụ nói: phòng, chính là sào.
Miết giáp
Vị mặn, tính bình. Chủ trị tâm phúc chứng hà kiên ngạnh tích tụ, hàn nhiệt, khu trừ phích khối, thịt thừa, âm thực, trĩ sang, ác nhục. Sinh trưởng ở trì trạch.
《Danh y》 nói: sinh trưởng ở Đan Dương, thái tập vô định thì.
Án: 《Thuyết văn》 nói: miết, giáp trùng.
Giải
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị hung trung tà khí, nhiệt kết đau đớn, khẩu nhãn ngoa tà nhi thũng. Dùng bại tất thiêu nó, khả dẫn thử. Sinh trưởng ở trì trạch.
《Danh y》 nói: sinh trưởng ở Y Lạc các thủy trung, thái tập vô định thì.
Án: 《Thuyết văn》 nói: giải, hữu nhị ngao bát chỉ hoành hành, vô xà thiện chi huyệt tắc vô pháp tất hộ. Hữu viết, chính là giải. 《Tuân Tử·Cần học thiên》 nói: giải, lục chỉ nhi nhị ngao, vô xà thiện chi huyệt tắc vô pháp ký thác. 《Quảng nhã》 nói: bộ giải, chính là. 《Nhĩ nhã》 nói:, tiểu giả gọi. Quách Phác nói: hữu thuyết chính là, tượng giải nhi tiểu.
Tạc triền
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị tiểu nhi kinh giảo, dạ đề, điên giản, hàn nhiệt. Sinh trưởng ở Dương Liễu thượng.
《Danh y》 nói: ngũ nguyệt thái, chưng can.
Án: 《Thuyết văn》 nói: triền dĩ bàng minh giả, chính là điểu triền. 《Quảng nhã》 nói: KT, chính là triền; phục dục, chính là thối. Cựu tả tạ triền. 《Biệt lục》 nói: tạ, chính là minh triền. Xác, một tên khác gọi là triền. Hựu danh phục, án: tạ, chính là tạc tự. 《Chu Lễ·Khảo công ký》 nói: xỉ, tắc tạc. Trịnh Huyền nói: tạc, độc vi tạ tạ nhiên chi tạ, thanh âm đại nhi ngoại phóng. 《Thuyết văn》 nói: chư, đại thanh, âm đồng tạc, hiện tại cư chi tác tạc. Tạc triền, chính là ngũ nguyệt minh khiếu chi điểu. 《Hạ tiểu chính》 nói: ngũ nguyệt lương điểu minh. 《Truyện》: lương điểu, ngũ sắc tề bị. 《Nhĩ nhã》 nói: điểu, lang điểu. 《Mao thi》 nói: như điểu. 《Truyện》 nói: điểu, triền. 《Phương ngôn》 nói: Sở địa, gọi điểu; Tống, Vệ chi gian, gọi đường điểu; Trần Trịnh chi gian, gọi lang điểu; Tần, Tấn chi gian, gọi triền; Hải Đại chi gian, gọi KT. 《Luận hành》 nói: triền, sinh ư phục dục, khai liệt bối nhi xuất. Nhi 《Ngọc thiên》 nói: tạ triền, thất nguyệt sinh. Đào Hoằng Cảnh: độc âm tạ tác trách, thuyết triền, chính là 《Nguyệt lệnh》 trung nhập hàn triền, 《Nhĩ nhã》 sở thuyết, 《Đường bổn》 chú phi nan nó.
Tế tào
Vị mặn, tính vi ôn. Chủ trị ứ huyết, huyết ứ (Thái Bình ngự lãm tác huyết chướng), tý trở chi khí cơ, cốt chiết, ứ huyết đình lưu tại hiếp hạ đạo trí kiên ngạnh mãn trướng đau đớn, nguyệt kinh bế chỉ, nhãn trung hữu dịch mạc già đái thị lực, thanh sắc chi dịch trướng hòa bạch mạc. Biệt danh gọi là tề. Sinh trưởng ở bình dã thủy trạch chi địa.
《Danh y》 nói: biệt danh gọi là tề, hựu gọi là bột tề. Sinh trưởng ở Hà Nội địa khu nhân gia tích tụ chi phẩn thảo chi trung. Thái tập một có cố định thời gian. Phản hướng hành tẩu giả, dược hiệu hảo.
Án: 《Thuyết văn》 nói:, thị tế tào; du, thị du tề; yết, thị du tề. 《Quảng nhã》 nói: chất, , địa tàm, đố, tế tào. 《Nhĩ nhã》 nói: , tế tào. Quách Phác chú thuyết: tại phẩn nê thổ trung. Hựu thuyết: du tề, yết. Quách Phác chú thuyết: tại thụ mộc trung. Hiện tại tuy thông xưng vi yết, đãn sở tại chi xử bất đồng. Hựu thuyết: yết, . Quách Phác chú thuyết: thụ mộc trung chi nang trùng. Yết, tang thụ trung chi đố trùng, Quách Phác chú thuyết: chính là kiết quật. 《Mao thi》 thuyết: cảnh hạng tượng du tề. 《Truyện》 thuyết: du tề, thị yết trùng. 《Phương ngôn》 thuyết: tế tào, gọi là . Tự hàm cốc quan vãng đông chi địa khu, gọi là du tề, hữu gọi là tàm ; Lương Châu, Ích Châu chi gian, gọi là , hữu gọi là yết, hữu gọi là chất ; Tần địa, Tấn địa chi gian, gọi là đố, hữu gọi là thiên lâu.
《Liệt Tử·Thiên thụy thiên》 thuyết: ô túc chi căn biến thành tế tào. 《Bác vật chí》 thuyết: tế tào dụng bối bộ hành tẩu, bỉ dụng cước hoàn nhanh. 《Thuyết văn》 một có chữ này, nên tá “” tự lai thay thế. Thanh âm tương cận, thị tự tả sai.
Ô tặc ngư cốt
Vị mặn, tính vi ôn. Chủ trị nữ tử băng lậu hạ huyết, xích bạch đới hạ, kinh huyết bất điều, huyết hành bế trở, âm bộ thực thũng đau đớn, hàn nhiệt vãng lai, chứng hà tích tụ, bất dự. Sinh trưởng ở trì chiếu thủy trạch.
《Danh y》 nói: sinh trưởng ở Đông Hải. Thái tập một có cố định thời gian.
Án: 《Thuyết văn》 nói: , ô , ngư danh, hữu viết tức. 《Tả Tư phú》 trung hữu ô tặc. Lưu Quỳ chú thuyết: ô tặc ngư, phúc trung hữu mặc. Đào Hoằng Cảnh thuyết: thị do ô biến hóa nhi thành, hiện tại kỳ khẩu cước đô hoàn tồn tại, nhưng nhiên tương tự bãi liễu.
Bạch cương tàm
Vị mặn. Chủ trị tiểu nhi kinh phong, điên giản, dạ gian đề khấp, khu trừ tam trùng, giảm thiểu diện bộ hắc ban, sử nhân diện mạo hảo khán, nam tử âm bộ thực sang bệnh. Sinh trưởng ở bình dã thủy trạch.
《Danh y》 nói: sinh trưởng ở xuyên. Tứ nguyệt thái tập tự nhiên tử vong giả.
Án: 《Thuyết văn》 nói: tàm thị năng thổ ty chi trùng. 《Hoài Nam Tử·Thuyết lâm huấn》 nói: tàm, chỉ cật thực nhi bất ẩm thủy, nhị thập nhị nhật tựu biến hóa.
《Bác vật chí》 nói: tàm hữu tam chủng biến hóa, tiên hoài thai nhiên hậu giao phối. Bất giao phối giả, dã năng sản tử, tử hậu lai biến thành , đô một hữu mi mao nhãn tình, dung dịch thụ thương, thu hoạch dã thiểu. 《Ngọc thiên》 tả tác cương tàm, nên tựu thị cương tự, cựu tả , bất đối.
Ngư giáp
Vị tân, tính vi ôn. Chủ trị tâm phúc bộ chi chứng hà, phục tàng kiên ngạnh chi tích khối, tích tụ, hàn nhiệt vãng lai, nữ tử băng trung, hạ huyết trình hiện ngũ chủng nhan sắc, tiểu phúc dữ âm bộ tương hỗ khiên dẫn đau đớn, sang tễ, tử cơ. Sinh trưởng ở trì chiếu thủy trạch.
《Danh y》 nói: Sinh trưởng ở Nam Hải. Thu hái không có thời gian cố định.
Án: 《Thuyết văn》 nói: Thiện, là ngọc của cá, da có thể làm trống. Đà tích, là loài sâu nước, giống như thằn lằn, dễ lớn. Đào Hoằng Cảnh nói: Xà, chính là đà giáp.
Xu kê
Vị đắng, tính bình. Chủ trị tà khí ở tâm phúc, liệt dương, bổ ích tinh khí, tăng cường trí nhớ, khiến người có con, sắc mặt tốt đẹp, bổ ích trung tiêu, khiến thân thể nhẹ nhàng. Sinh trưởng ở trong khe suối.
《Danh y》 nói: Sinh trưởng trên cây xu ở Hà Nội. Tháng bảy thu hái, phơi khô.
Án: 《Quảng nhã》 nói: Xu cưu, chính là xu kê. 《Nhĩ nhã》 nói: , thiên kê. Lý Tuần nói: Biệt danh là toan kê. Quách Phác nói: Sâu nhỏ, thân đen, đầu đỏ, biệt danh là sa kê, lại gọi là xu kê. 《Mao thi》 nói: Tháng sáu sa kê rung cánh. Lục Cơ nói: Sa kê, giống như châu chấu mà có vằn, cánh lông có nhiều lớp, một lớp cánh nào đó là màu đỏ tươi, có người gọi nó là thiên kê. Giữa tháng sáu, bay lên rung cánh, phát ra tiếng xo ro. Người U Châu gọi nó là bồ thác, chính là nó.
Khu du
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị tặc phong gây ra , cân mạch co giật cũng như thoát giang, kinh phong điên giản, co quắp co rút. Biệt danh gọi là lăng lãi. Sinh trưởng ở ao đầm nước.
《Danh y》 nói: Biệt danh gọi là thổ , lại gọi là phó . Sinh trưởng ở núi lớn cũng như dưới tường đá cát nơi bóng râm. Tháng tám thu hái.
Án: 《Thuyết văn》 nói: Du, là hổ du. Lãi, biệt danh hổ du. 《Quảng nhã》 nói: Lãi lãi, oa ngưu, du. 《Trung sơn kinh》 nói: Thanh yếu chi sơn, ở đây có nhiều bộ lụy. Quách Phác chú nói: Bộ lụy, chính là oa ngưu. 《Chu lễ》 trung miết nhân, tế tự thì cung cấp lãi. Trịnh Huyền chú nói: Lãi, chính là du. 《Nhĩ nhã》 nói: lãi, du. Quách Phác chú nói: Chính là oa ngưu. 《Danh y》 nói: Riêng phân ra một điều oa ngưu, là không đúng.
Cũ viết khu, 《Thuyết văn》 sở vô. Căn cứ 《Ngọc thiên》 nói: Khu, khu đông, biết chính là hoạt đông chi dị văn, như thế, thì nên viết hoạt.
Thạch long tử
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị năm chứng lâm long, tà khí kết tụ, phá trừ thạch lâm, hạ huyết, lợi tiểu tiện thủy đạo. Biệt danh gọi là tích dịch. Sinh trưởng ở trong khe suối.
《Ngô Phổ》 nói: Thạch long tử, biệt danh thủ cung, biệt danh thạch dịch, biệt danh thạch long tử (《Thái bình ngự lãm》).
《Danh y》 nói: Biệt danh sơn long tử, biệt danh thủ cung, biệt danh thạch dịch. Sinh trưởng ở Bình Dương cũng như giữa đá ở Kinh Sơn. Tháng năm thu hái, đặt trên đá, để cho khô.
Án: 《Thuyết văn》 nói: Tích, là trùng trung chi tích dịch. Dịch, tích dịch, đình, thủ cung, tượng hình. , ở trên tường, gọi là đình; ở trong cỏ, gọi là tích dịch, có viết 、 vinh xà: y giả, dụng kỳ minh khiếu lai chú (hoặc: y giả dụng nó lai chú minh). 《Quảng nhã》 nói: Cáp giải, , hà , tích dịch. 《Nhĩ nhã》 nói: Vinh nguyên, tích dịch; tích dịch, đình; đình , thủ cung. 《Mao thi》 nói: Vì sao là hủy dịch. 《Truyện》 nói: Dịch, là nguyên. Lục Cơ nói: Hủy dịch, biệt danh vinh nguyên, chính là dịch, có người gọi nó là xà y, giống như tích dịch, xanh lục, lớn nhỏ như ngón tay, hình dạng khó coi. 《Phương ngôn》 nói: Thủ cung, Tần địa, Tấn địa, Tây Hạ gọi nó là thủ cung, có gọi là , có gọi là tích dịch; những cái ở trong nước, gọi nó là dịch dịch; Nam Sở gọi nó là xà y, có gọi là vinh nguyên; Đông Tề, Hải Đại chi gian gọi là ; Bắc Yên gọi nó là chúc đình; Quế Lâm chi trung, lớn thủ cung có thể kêu, gọi nó là cáp giới.
Mộc manh
Vị đắng, tính bình. Chủ trị mắt đỏ sưng đau, thương lưu lệ, ứ huyết, huyết hành bế trở, hàn thấp toan thống, bất dự. Biệt danh gọi là hồn thường. Sinh trưởng ở trong đầm.
《Danh y》 nói: Sinh trưởng ở Hán Trung. Tháng năm thu hái.
Án: 《Thuyết văn》 nói: Manh, là giao nhân chi phi trùng. 《Quảng nhã》 nói: , là manh, đây là tỉnh tả. 《Hoài Nam tử·Tề tục huấn》 nói: Thủy trung chi sài, biến thành mang. Cao Dụ chú nói: Là thanh linh. Hựu 《Thuyết văn huấn》 nói: Manh, năng tiêu tán tích huyết.
Phi manh
Vị đắng, tính vi hàn. Chủ trị trục trừ ứ huyết, công phá tịnh hạ huyết tích, kiên ngạnh chi phích khối, chứng ngưng, hàn nhiệt, thông suốt huyết mạch dĩ cập cửu khiếu. Sinh trưởng ở trong khe suối.
《Danh y》 nói: Sinh trưởng ở Giang Hạ. Tháng năm thu hái. Bụng có huyết, dược hiệu tốt.
Phi liêm
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị huyết ứ (《Thái bình ngự lãm》 dẫn thuật nói: Trục hạ huyết), chứng ngưng kiên ngạnh, hàn nhiệt, phá trừ tích tụ, yết hầu tý trở, nội hàn, bất dự. Sinh trưởng ở trong đầm.
《Ngô Phổ》 nói: Phi liêm trùng, Thần Nông, Hoàng Đế nói: Trị liệu phụ nhân hàn nhiệt (《Thái bình ngự lãm》).
《Danh y》 nói: Sinh trưởng ở Tấn Dương cũng như nhân gia chi gian. Lập thu thì thu hái.
Án: 《Thuyết văn》 nói: , lô, . Phi, là xú trùng, phụ . , là KT. 《Quảng nhã》 nói: Phi, là phi liêm. 《Nhĩ nhã》 nói: Phi, . Quách Phác chú nói: Chính là phụ bàn xú trùng. 《Đường bản thảo》 chú nói: Hán Trung nhân ăn nó năng hạ khí, gọi là thạch khương, biệt danh lô , biệt danh phụ bàn, cũ viết liêm. Căn cứ Hình Bính sơ dẫn thử tác liêm.
Trùng
Vị mặn, tính hàn. Chủ trị tâm phúc hàn nhiệt, cảm giác như bị nước lạnh xối, huyết tích, chứng ngưng, phá trừ kiên ngạnh, hạ huyết bế, sử nhân hữu tử, hiệu quả rất tốt. Biệt danh gọi là thổ biển. Sinh trưởng ở trong đầm.
《Danh y》 nói: Biệt danh thổ biển. Sinh trưởng ở Hà Đông cũng như trong cát, dưới tường nhà, nơi ẩm thấp trong đất. Tháng mười thu hái, phơi khô.
Án: 《Thuyết văn》 nói: Trùng, thuộc loại , mắt . 《Quảng nhã》 nói: Phụ , là . 《Nhĩ nhã》 nói: Thảo trùng, phụ . Quách Phác chú nói: Là thường dương. 《Mao thi》 nói: Thảo trùng. 《Truyện》 nói: Thảo trùng, là thường dương. Lục Cơ nói: Lớn nhỏ dài ngắn giống như châu chấu. Kỳ đặc chi thanh, xanh, thích ở trong cỏ tranh.
Phục dực
Vị mặn, tính bình. Chủ trị mắt mờ không thấy rõ, năng sử mắt minh lượng, dạ gian thị vật hữu tinh quang. Trường kỳ phục dụng, sử nhân tâm tình hỉ duyệt khoái lạc, dung mạo mỹ hảo, vô ưu sầu. Biệt danh gọi là biên phúc. Sinh trưởng ở trong khe suối (cũ thuộc cầm bộ, hiện tại di đáo giá lý).
《Ngô Phổ》 nói: Phục dực, có sinh trưởng ở nhân gia gian. Lập hạ chi hậu, âm can, trị liệu mắt mờ, sử nhân dạ gian thị vật hữu quang (《Nghệ văn loại tụ》).
《Danh y》 nói: Sinh trưởng ở Thái Sơn cũng như nhân gia gian. Lập hạ hậu thu hái, âm can.
Án: 《Thuyết văn》 nói: Biên, là biên phúc; phúc, là biên phúc, phục dực. 《Quảng nhã》 nói: Phục dực, phi thử, tiên thử, . 《Nhĩ nhã》 nói: Biên phúc, phục dực. 《Phương ngôn》 nói: Biên phúc, từ Hàm Cốc Quan vãng đông chi địa khu, gọi nó là phục dực, có gọi nó là phi thử, có gọi nó là lão thử, có gọi nó là tiên thử; từ Hàm Cốc Quan vãng tây, Tần địa, Lũng địa chi gian, gọi nó là biên phúc; Bắc Yên gọi nó là . Lý Đương Chi nói: Chính là thiên thử.
Dĩ thượng trùng, ngư loại, trung phẩm cộng nhất thập thất chủng. Cựu vi thập lục chủng. Khảo chứng cầm bộ chi phục dực đương quy nhập giá lý.
Mai thực
Vị toan, tính bình. Chủ yếu công hiệu là giáng khí, thanh trừ nhiệt tà, phiền táo, hung phúc trướng mãn, an định tâm thần, trị liệu chi thể đau nhức, bán thân bất toại, cơ phu mộc nhân, hoại tử cơ nhục, khứ trừ thanh hắc sắc chi chí, dĩ cập ác tính dịch bệnh. Sinh trưởng ở trong sơn cốc.
《Ngô Phổ》 nói: Mai thực (《Đại quan bản thảo》 tác mai hạch), năng minh mục, bổ ích khí lực (《Thái bình ngự lãm》), tiêu trừ cơ ngạ cảm (《Đại quan bản thảo》 dẫn 《Ngô thị bản thảo》).
《Danh y》 nói: Sản xuất ở Hán Trung. Tháng năm thải trích, dùng hỏa hồng can.
Khảo chứng: 《Thuyết văn giải tự》 nói: KT, là can mai nhất loại chi vật, hữu thời viết KT. Mỗ, là toan vị quả thực. Dụng mai lai biểu thị nam mộc. 《Nhĩ nhã》 nói: Mai chính là nam. Quách Phác chú giải nói: Giống như hạnh, quả thực toan, đây là dĩ "mỗ" lai chú giải "mai". 《Chu lễ》 ký tái: Biên nhân quản chưởng quỹ thực, biên trung sở thịnh, hữu can KT. Trịnh Huyền chú giải nói: Can KT, chính là can mai. Hữu đào chư, mai chư, giá ta đều là can chế chi quả phẩm. 《Mao thi》 chính nghĩa nói: Mai bạo sái hậu chế thành lạp nhục, phóng tại canh thang trung, nhân hàm tại khẩu trung, dụng lai sử khí hương (《Đại quan bản thảo》).
Các loại quả nêu trên, phẩm trung có một loại. Sách cũ giống nhau.
Đại hoàng đậu quyển (mầm đậu nành vàng)
Vị ngọt, tính bình. Chủ trị thấp tý, gân mạch co quắp, đau đầu gối.
Sinh đại đậu (đậu nành sống): Đắp ngoài trị ung nhọt, nấu nước uống có thể giết quỷ độc, chỉ thống.
Xích tiểu đậu (đậu đỏ): Chủ trị lợi thủy tiêu thũng, bài xuất mủ máu của ung nhọt. Sinh trưởng ở đất bằng.
Ngô Phổ nói: Đại đậu hoàng quyển, Thần Nông, Hoàng Đế, Lôi Công cho rằng: Vô độc. Thu hái không cố định thời gian. Có thể khử sắc ban đen trên mặt. Phối hợp với Tiền hồ, Ô húy, Hạnh nhân, Mẫu lệ, Thiên hùng, Thử thỉ, cùng dùng mật điều hòa, hiệu quả rất tốt. Không ưa cùng dùng với Hải tảo, Long đởm. Phương pháp này, chính là dùng đậu nành vừa mới mọc mầm vàng. Sinh đại đậu, Thần Nông, Kỳ Bá cho rằng: Dùng sống, dùng chín, tính hàn. Tháng chín thu hái. Có thể giải độc của Ô đậu, đều không thể cùng dùng với Nguyên sâm. Xích tiểu đậu, Thần Nông, Hoàng Đế cho rằng: Vị mặn; Lôi Công cho rằng: Vị ngọt. Tháng chín thu hái (Thái Bình Ngự Lãm).
Danh Y nói: Sản xuất ở Thái Sơn. Tháng chín thu hái.
Khảo chứng: Thuyết Văn Giải Tự nói: Tiêu, tức là loại đậu, hình chữ giống như hình dáng đậu mọc; Phất, là tiểu đậu. Hoắc, là lá non của loại đậu. Quảng Nhã nói: Đại đậu, gọi là Tiêu; Tiểu đậu, gọi là Phất; Đậu giác, gọi là Giáp; Lá đậu, gọi là Hoắc. Nhĩ Nhã nói: Nhung thúc, gọi là Nhẫm thúc. Tôn Viêm chú thích: Chính là đại đậu.
Túc mễ (kê)
Vị mặn, tính vi hàn. Chủ yếu công hiệu là bảo dưỡng thận khí, thanh trừ nhiệt tà trong vị, tỳ, bổ ích khí lực. Trần niên túc mễ (kê cũ), vị đắng, chủ trị vị nhiệt, tiêu khát, thông lợi tiểu tiện (Đại Quan Bản Thảo ghi là chữ đen, căn cứ theo Ngô Phổ tăng bổ).
Ngô Phổ nói: Trần túc, Thần Nông, Hoàng Đế cho rằng: Vị đắng, vô độc. Trị tỳ nhiệt, khát. Túc, có thể bảo dưỡng thận khí (Thái Bình Ngự Lãm).
Khảo chứng: Thuyết Văn Giải Tự nói: Túc, là quả của ngũ cốc tốt. Tôn Viêm chú thích Nhĩ Nhã về Tế tắc nói: Chính là túc, người Quan Trung gọi tiểu mễ là túc mễ, là như vậy.
Thử mễ (kê nếp)
Vị ngọt, tính ôn. Chủ yếu công hiệu là bổ ích trung khí, nhưng ăn nhiều sẽ sinh nhiệt tà, làm cho người phiền táo (Đại Quan Bản Thảo ghi là chữ đen, căn cứ theo Ngô Phổ tăng bổ).
Ngô Phổ nói: Thử, Thần Nông cho rằng: Vị ngọt, vô độc. Tháng bảy thu hái, âm can. Có thể bổ ích trung khí (Thái Bình Ngự Lãm).
Khảo chứng: Thuyết Văn Giải Tự nói: Thử, là loại trong họ kê có tính dính. Vì trồng vào tiết Đại Thử, nên gọi là Thử. Khổng Tử nói: Thử, có thể dùng để nấu rượu, là kê nhập thủy ủ thành. Quảng Nhã nói: Tế, chính là Thử đạo, bông của nó gọi là Hòa. Tề Dân Yếu Thuật dẫn Phạm Thắng Chi Thư nói: Trồng thử, kiêng kỵ ngày Sửu. Lại nói: Thử, sinh vào ngày Tỵ, mạnh vào ngày Dậu, dài vào ngày Tuất, già vào ngày Hợi, chết vào ngày Sửu, chịu chế vào ngày Bính Ngọ, kiêng kỵ ngày Sửu, Dần, Mão. Án: Thử, chính là loại miết (mễ) này.
Trên đây các loại mễ, cốc, phẩm trung có ba loại. Sách cũ có hai loại, Đại đậu, Tiểu đậu tính là hai loại, không có Túc mễ, Thử mễ. Nay tăng bổ.
Liệu thực (quả rau răm)
Vị tân, tính ôn. Chủ yếu công hiệu là minh mục, ôn bổ trung tiêu, để kháng phong hàn, tiêu trừ thủy khí, trị mặt mũi phù thũng, ung dương. Mã liệu (rau răm ngựa), có thể khu trừ trùng trong ruột (đỉa), làm cho thân thể nhẹ nhõm. Sinh trưởng ở ven nước.
Ngô Phổ nói: Liệu thực, có một tên gọi là Thiên liệu, một tên gọi là Dã liệu, một tên gọi là Trạch liệu (Nghệ Văn Loại Tụ).
Danh Y nói: Sản xuất ở Lôi Trạch.
Khảo chứng: Thuyết Văn Giải Tự nói: Liệu, là loại rau có vị tân, tức là Tường ngu. Tường, chính là Tường ngu, cũng chính là Liệu. Quảng Nhã nói: Hồng, Long, Phất, đều là Mã liệu. Nhĩ Nhã nói: Tường ngu, chính là Liệu. Quách Phác chú thích: Ngu liệu, chính là Trạch la. Lại nói: Hồng, là Long cổ. Trong đó lớn, gọi là Quy. Quách Phác chú thích: Tục gọi Hồng thảo là Long cổ, là do ngữ âm chuyển biến. Mao Thi nói: Vùng đất thấp ướt có Du long. Mao Truyện nói: Long, chính là Hồng thảo. Lục Cơ nói: Một tên gọi là Mã liệu, lá lớn mà đỏ, sinh trưởng ở
Tùng thực (quả hành hoa)
Vị tân, tính ôn. Chủ yếu công hiệu là minh mục, bổ ích trung tiêu bất túc. Thân của nó có thể nấu nước, chủ trị thương hàn phát nhiệt ác hàn, phát hãn, và trúng phong gây mặt mũi phù thũng.
Giới (hẹ tây/tỏi tây)
Vị tân, tính ôn. Chủ trị kim loại sang thương, và sang khẩu loét nát, làm cho thân thể nhẹ nhõm, tiêu trừ đói khát, hoãn suy già. Sinh trưởng ở đất bằng.
Danh Y nói: Sản xuất ở Lỗ Sơn.
Khảo chứng: Thuyết Văn Giải Tự nói: Giới, là rau, lá giống như cửu (hẹ). Quảng Nhã nói: Cửu, Giới, Tiều, hoa của chúng gọi là Tinh. Nhĩ Nhã nói: Giới, chính là Hồng hội. Quách Phác chú thích: Chính là Giới thái. Lại nói Phất sơn giới. Đào Hoằng Cảnh nói: Tùng và Giới là thực vật khác nhau, nhưng nay hợp chúng trong cùng một mục. Bản Kinh đã không thu nhận Cửu, là vì cùng loại với nhau.
Thủy tô (rau tía tô nước)
Vị tân, tính vi ôn. Chủ yếu công hiệu là giáng khí, khử khẩu xú, giải độc, tế trừ uế ác chi khí. Sử dụng lâu dài, có thể thông suốt thần minh, làm cho thân thể nhẹ nhõm, hoãn suy già. Sinh trưởng ở ao đầm.
Ngô Phổ nói: Giới trữ, một tên gọi là Thủy tô, một tên gọi là Lao tổ (Thái Bình Ngự Lãm).
Danh Y nói: Một tên gọi là Kê tô, một tên gọi là Lao tổ, một tên gọi là Giới trữ, một tên gọi là Giới trư. Sản xuất ở Cửu Chân, tháng bảy thu hái.
Khảo chứng: Thuyết Văn Giải Tự nói: Tô, chính là Quế nhẫm. Quảng Nhã nói: Giới trữ, chính là Thủy tô. Nhĩ Nhã nói: Tô, chính là Quế nhẫm. Quách Phác chú thích: Tô, là loại thuộc Nhẫm, nên gọi là Quế nhẫm. Phương Ngôn nói: Tô, cũng chính là Nhẫm. Vùng Quan Trung phía đông tây, có chỗ gọi là Tô, có chỗ gọi là Nhẫm; vùng Chu, Trịnh, gọi là Công quải; phía nam Nguyên Thủy, Tương Thủy, gọi là Vực; trong đó nhỏ, gọi là Nhưỡng nhự. Án: Nhưỡng nhự, chính là Hương nhữ, cũng gọi là Hương nhự. Danh Y riêng xuất ra Hương nhữ điều, là không đúng. Các loại Tử tô, Bạc hà hiện nay, đều thuộc loại Tô. Danh Y đều riêng xuất chúng ra.
Trên đây các loại thái, phẩm trung có ba loại. Sách cũ có bốn loại, khảo chứng Tùng thực, nên hợp với Giới trong cùng một mục, nay đồng thời đem Giả tô dời vào thảo bộ.
