Phụ lục: Mười hai điều trong Ngô Thị Bản Thảo
Phụ: "Ngô Thị Bản Thảo" Mười Hai Điều
Long nhãn, một tên khác gọi là Ích trí, lại còn một tên gọi là Tỉ mục (xuất từ "Tề Dân Yếu Thuật").
Thử vĩ, một tên khác gọi là Kình, lại còn một tên gọi là Sơn lăng kiều. Dùng để trị lỵ (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Mãn âm thực, sinh trưởng ở nơi thung lũng bằng phẳng hoặc vườn rau. Dây leo lan rộng giống như lá dưa, quả giống như đào. Tháng bảy hái. Có thể chỉ khát, kéo dài tuổi thọ (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Thiên tuế viên trung phu bì, phối hợp với sinh khương và xích thạch chi, có thể chữa bệnh (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Tiểu hoa, một tên khác gọi là Kết thảo (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Mộc qua, sinh trưởng ở Di Lăng (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Cốc thụ bì, trị hầu bộ tắc nghẽn không thông. Một tên khác gọi là Sở (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Anh đào, vị ngọt. Công năng chính là điều hòa trung tiêu, bổ ích khí huyết, khiến người mặt hồng hào, tâm tình sảng khoái, ý chí kiên định. Một tên khác gọi là Chu đào, lại còn một tên gọi là Mạch anh (xuất từ "Nghệ Văn Loại Tụ").
Lý hạch, trị đột nhiên ngã quỵ hôn mê. Lý hoa, có thể khiến người dung mạo tốt đẹp (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Đại mạch, một tên khác gọi là Mạch. Là loại ngũ cốc sinh trưởng mạnh nhất, không có độc tính, trị tiêu khát bệnh, thanh trừ nhiệt tà, bổ ích khí huyết. Khi dùng, lấy mật ong làm phụ liệu. Mạch chủng: một tên khác gọi là Tiểu mạch. Không có độc tính. Trị lỵ nhưng không thích hợp để dùng (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Đậu xì, có thể bổ ích khí huyết của con người (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
Huy nhật, một tên khác gọi là Châm vũ (xuất từ "Thái Bình Ngự Lãm").
